MỤC LỤC
LỜI
NÓI ĐẦU
PHẦN
DUYÊN KHỞI
LỜI
NÓI ĐẦU
Kinh
BÁCH DỤ gồm gần một trăm câu truyện ngụ ngôn đầy sinh
động và súc tích ẩn tàng các giá trị triết lý giáo dục
nhân sinh do Đức Phật kể ra để dạy về giáo lý và giáo
pháp. Kinh có tác dụng phổ biến Đạo Phật bằng phương
pháp thí dụ. Đức Phật mang những truyện xưa có liên quan
đến thiện ác, tội phước, báo ứng làm thí dụ cụ thể
để từ đó nêu ra sự dại dột mê lầm, vạch rõ ra cái
vô minh của chúng sinh. Đa số truyện thường lấy hạng người
bình dân hoặc những kẻ khờ dại quá mức làm đối tượng.
Một số truyện lại dùng cả loài vật làm vai chính. Sau mỗi
truyện nêu làm thí dụ là phần luận bàn ngắn gọn.
Nghe
truyện ngụ ngôn để thấy ra ý nghĩa rồi lĩnh hội được
lời dạy của Đức Phật. Kinh có ích lợi nhiều cho các người
tu học, dù đã xuất gia, hay còn là cư sĩ và cho toàn thể
Phật tử nói chung. Tôn chỉ của bộ kinh là muốn đem ánh
sáng trí tuệ để xua tan đi màn si ám của những ý thức
vô minh trong quá trình tu tập của người Phật tử.
Kinh
mang một thể loại văn học Phật giáo rất đặc thù. Kinh
có công dụng tương tự như những truyện trong cuốn sách
“Cổ Học Tinh Hoa” của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc hay tập
truyện thơ của Aesop hoặc những truyện thơ ngụ ngôn của
thi hào La Fontaine nước Pháp hồi thế kỷ thứ 17. Vì thế
những truyện kể trong Kinh BÁCH DỤ còn có tác dụng giáo
dục nói chung cho tất cả mọi người đọc, không phân biệt
tôn giáo. Tuy nhiên ngoài tính cách giáo dục về phương diện
đạo đức như những tác phẩm kể trên, Kinh BÁCH DỤ còn
mang lại ý nghĩa những lời giáo huấn về mặt tôn giáo.
“Ngoại đạo” được đề cập tới nhiều trong kinh là
những đạo cùng thời với Đức Phật cả hơn 2600 năm trước
đây.
Truyện
vui có thể coi như là những lớp đường phèn rất ngon ngọt
bọc ngoài những vị thuốc đắng. Thuốc có đắng mới dã
tật, đây là những tật xấu của chúng sinh. Truyện vui cũng
được coi như những lớp lá cây dùng để gói thuốc giải
độc ở bên trong. Một khi đã được giải độc, đã thấm
nhuần được những lời giáo huấn đầy chân lý thời chúng
ta nên loại ra những lời châm biếm khôi hài giễu cợt như
vứt bỏ đi những lá cây bọc ngoài sau khi đã dùng thuốc
và đã được lành bệnh.
Kinh
BÁCH DỤ này được dịch giả THÍCH
NỮ NHƯ HUYỀN dựa vào bản tiếng Hán rồi phiên dịch
ra văn xuôi tiếng Việt (bản in ghi năm 1958) từ “cốt truyện”
cho tới “lời bàn”. Trong lời nói đầu dịch giả cho biết:
“Bộ Kinh Bách Dụ gồm có 98 bài thí dụ của Phật nói
do ngài Pháp Sư Tăng Già Tư Na sao lục trong kinh tạng”…“Một
đời thuyết giáo trong bốn mươi chín năm, tùy theo căn cơ
chúng sanh sai khác, Đức Phật nói ra vô lượng pháp môn không
đồng. Khi nói thấp, khi nói cao, từ dễ lần đến khó, đem
gần tỉ dụ xa. Chung qui chỉ hướng về một mục đích duy
nhất là làm cho chúng sanh tự giác ngộ bản tánh sáng suốt
của mình”.
“Bách”
là một trăm. “Dụ” là thí dụ. Soạn giả đã theo sát
nguyên bản và chuyển nội dung cuốn Kinh
BÁCH DỤ trên thành thể “thơ lục bát” với những ngôn
từ bình dị để mọi người dễ đọc, dễ nghe, dễ hiểu
và dễ nhớ. Phần “lời bàn” ngay sau truyện cũng được
chuyển thành thơ và in chữ nghiêng.
Khi
chuyển thơ soạn giả cũng tham khảo thêm ba bản dịch khác
của Kinh BÁCH DỤ. Nói chung thời
các bản dịch chỉ có chút ít khác biệt. Ba bản này là:
1. “PHẬT HỌC NGỤ NGÔN” bản dịch từ tiếng Hán của
Hòa Thượng Thích Tâm Châu. Người dịch cho biết Kinh Bách
Dụ: “là cuốn kinh số 209 Trong Đại Tạng Kinh”…“Lẽ
ra kinh Bách Dụ phải đủ 100 bài thí dụ, nhưng đây chỉ
có 98 bài”…“Bộ này chính tên là Bách Dụ Kinh. Nội dung
toàn bộ đều là lời thí dụ, ngụ ý răn dạy những người
ngu si, không hiểu, để đi thẳng vào đường hiểu biết chân
chính, nên nay đổi là Phật học Ngụ ngôn”.
2. “KINH BÁCH DỤ” bản dịch từ tiếng Hán của Tỳ Kheo
Thích Tâm Khanh (năm 2000). Trong cuốn này người dịch cho biết:
“Nguyên tác kinh Bách Dụ do Tôn giả Tăng Già Tư Na (Sanghasena)
tuyển soạn 98 câu truyện thí dụ từ kinh điển do chính kim
ngôn đức Thích Tôn tuyên thuyết. Năm thứ 10 niên hiệu Vĩnh
Minh (493 TL), bộ kinh được tôn giả Cầu Na Tỳ Địa (Gunavaddhi),
người xứ Trung Ấn chuyển dịch sang Hán ngữ”.
3. “SAKYAMUNI’S ONE HUNDRED FABLES” do Tetcheng Liao (Tiến Sỹ
Luật Khoa Viện Đại Học Paris) dịch Kinh Bách Dụ từ tiếng
Hán sang tiếng Anh kèm thêm lời chú thích (năm 1981). Về việc
Kinh chỉ có 98 truyện, thiếu 2 truyện, dịch giả ghi:
“Một mặt có thể giải thích rằng để thuận tiện nên
nói thành con số chẵn. Mặt khác có thể giải thích rằng
lời nói đầu và lời nói cuối sách cũng được kể luôn
thêm vào cho chẵn thành một trăm truyện”.
Ước
mong rằng những truyện thơ tuy mộc mạc và bình dị lại
đầy vẻ giễu cợt trong cuốn Kinh này sẽ chuyên chở được
những lời dạy thâm sâu và quý báu của Đức Phật tới
khắp cả chúng sinh.
NAM
MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI
PHẬT
Mùa
Phật Đản 2007
DIỆU
PHƯƠNG
PHẦN
DUYÊN KHỞI
Lời
Thầy A NAN: “Chính tôi được nghe: Một thời kia Đức Phật
ở trong vườn trúc Thước Phong, thành Vương Xá, cùng với
các vị đại Tỳ kheo, Bồ tát, Ma ha tát và Thiên, Long bát
bộ, chừng ba vạn sáu nghìn người chung hợp.
Khi
ấy, trong pháp hội có năm trăm vị Phạm chí dị học. Các
vị từ nơi toà ngồi của mình đứng dậy bạch Phật rằng:
“Thưa Thế Tôn! Chúng tôi nghe nói đạo Phật rộng, sâu không
đạo nào có thể sánh kịp, nên chúng tôi lại đây muốn
hỏi Ngài mấy điều, mong Ngài vui lòng giảng giải cho.”
Đức
Phật đáp: “Hay lắm, các vị cứ việc hỏi.”
Phạm
Chí hỏi: “Con người có hiện hữu hay không?” Phật đáp:
“Cũng ‘có’ và cũng ‘không’.”
Phạm
chí hỏi tiếp: “Như nay thấy có, làm sao Ngài lại nói là
không? Như nay không thấy, làm sao Ngài lại nói là có?” Phật
đáp: “Sinh cho là ‘có’, chết cho là ‘không’, nên nói
là hoặc có hoặc không.”
Phạm
chí hỏi: “Người ta do đâu mà sống được?” Phật đáp:
“Người ta do ngũ cốc mà sống.”
Phạm
chí hỏi: “Ngũ cốc do đâu mà sinh ra?” Phật đáp: “Ngũ
cốc do nơi tứ đại là ‘đất, nước, gió, lửa’ mà sinh
ra.”
Phạm
chí hỏi: “Tứ đại do từ đâu sinh ra?” Phật đáp: “Tứ
đại do từ ‘không’ mà sinh ra.”
Phạm
chí hỏi: “Không do đâu mà sinh ra?” Phật đáp: “Không
do chỗ ‘vô sở hữu’ mà sinh ra.”
Phạm
chí hỏi: “Vô sở hữu từ đâu sinh ra?” Phật đáp: “Do
‘tự nhiên’ sinh ra.”
Phạm chí hỏi: “Tự nhiên do từ đâu sinh ra?” Phật đáp:
“Do ‘Niết bàn’ sinh ra.”
Phạm
chí hỏi: “Niết bàn do đâu sinh ra?” Phật đáp: “Sao các
vị hỏi điều sâu xa thế! Các vị không biết Niết bàn là
pháp bất sinh, bất diệt hay sao?”
Phạm
chí lại hỏi: “Bạch Ngài, Phật đã nhập Niết bàn chưa?”
Phật đáp: “Ta chưa nhập Niết bàn.”
Phạm
chí hỏi: “Ngài chưa nhập Niết bàn sao Ngài biết được
Niết bàn là an lạc vĩnh viễn?” Phật nói: “Nay ta hỏi
lại các vị, chúng sinh trong thiên hạ khổ hay vui?”
Phạm
chí đáp: “Chúng sinh khổ lắm.” Phật hỏi: “Thế nào
là khổ?”
Phạm
chí đáp: “Chúng tôi thấy chúng sinh khi chết đau khổ không
thể chịu được nên chúng tôi biết chết là khổ.” Phật
nói: “Nay các vị tuy chưa chết mà cũng biết chết là khổ,
thời ta thấy chư Phật mười phương bất sinh, bất diệt,
nên ta biết Niết bàn là an lạc vĩnh viễn.”
Lúc
đó năm trăm vị Phạm chí tâm ý thông suốt, xin thọ ‘ngũ
giới’, chứng ngộ quả ‘Tu đà hoàn’, rồi ngồi lại
chỗ cũ.
Đức
Phật nói: “Các vị nghe cho kỹ, nay ta sẽ vì các vị mà
nói rộng về những thí dụ sau đây.”
Xem
Thêm:
Kinh
Bách Dụ, Thích Nữ Như Huyển