LỜI
NGƯỜI DỊCH
Kinh
Bát Đại Nhân Giác là bộ Kinh ngắn gọn, song nội dung lại
bao quát hầu như toàn bộ tư tưởng căn bản, chủ yếu của
Phật giáo; lại thêm, văn Kinh trong sáng, gảy gọn, dễ đi
vào lòng người, nên xưa nay rất được các bậc thiền đức
coi trọng, truyền bá. Theo truyền thống Phật giáo Trung Quốc,
các tăng ni sinh trong Tòng lâm và Phật Học Viện phải học
thuộc lòng và đọc tụng Kinh này hàng ngày.
Ở
Việt Nam, Kinh Bát Đại Nhân Giác được dịch và dạy trong
chốn tòng lâm và Phật Học Viện như môn học bắt buộc
của người sơ tâm xuất gia, cũng như được lưu truyền rộng
rãi trong giới Phật tử lâu nay. Pháp sư Diễn Bồi năm 1958
sang Việt Nam giảng Kinh Bát Đại Nhân Giác ở chùa Xá Lợi
từng bảo: "Hành giả Phật giáo Trung Quốc trước nay thường
tụng niệm Tâm Kinh Bát Nhã, càng nên thọ trì thêm Kinh Bát
Đại Nhân Giác; hành giả Phật giáo Việt Nam trước nay thường
tụng niệm Kinh Bát Đại Nhân Giác, càng nên chí tâm tụng
đọc thêm Tâm Kinh Bát Nhã."
Như
vậy đủ thấy, Kinh Bát Đại Nhân Giác và Tâm Kinh Bát Nhã
có vai trò quan trọng trong đời sống tu học của người con
Phật như thế nào!
Nội
dung Kinh này bao gồm tám điều giác ngo?của bậc Đại nhân
(Phật, Bồ tát), nghĩa lý uẩn súc, bao quát cả hệ thống
tư tưởng Giải thoát đạo và Bồ tát đạo trong Phật giáo,
nên trước giờ có rất nhiều vị Cao tăng Thạc đức chú
thích, giảng giải.
Quyển
sách này biên tập mười bài giảng về Kinh Bát Đại Nhân
Giác của đại sư Tinh Vân, Tông chủ Phật Quang Sơn ở Đài
Loan hiện nay, nên có tên: Mười Bài Giảng Kinh Bát Đại Nhân
Giác. Đây là một tác phẩm Phật học phổ thông được giới
Phật tử trân trọng, truyền bá rộng rãi ở Đài Loan gần
đây. Đại sư giải thích một cách dễ hiểu, sinh động,
thực tế, cộng thêm nhiều mẫu chuyện lý thú để giúp người
nghe, người đọc dễ dàng thâm nhập diệu lý trong Kinh.
Năm
1993, người viết phụ trách môn Kinh Bát Đại Nhân Giác ở
trường hạ chùa Bửu Liên ( Bình Thạnh), Chùa Định Thành
(quận 7)…, đã sử dụng quyển sách này như tài liệu chính
để tham khảo, giảng dạy trong mùa an cư. Nhận thấy đây
là một tài liệu rất hữu ích cho tăng ni và Phật tử trong
bước đầu học Phật, nên chúng tôi vừa dạy vừa dịch
ra Việt văn, khi mãn hạ thì dịch phẩm cũng hoàn thành, và
cho in photo lưu hành nội bộ để tăng ni, Phật tử có tài
liệu tu học.
Thấm
thoát thời gian đã tám năm, bản dịch này mới được chính
thức xuất bản để kết Pháp duyên cùng đại chúng. Trải
qua thêm một đoạn đường tu học, đương nhiên khi nhìn lại
mình trong quá khứ sẽ thấy có những điểm chưa vừa ý.
Đó là do học vấn tiến bộ và tư tưởng chín chắn hơn.
Cho nên bản dịch này được bút giả xem lại, so với bản
dịch cũ có sửa lại lời văn, bổ túc thêm phần dịch thơ,
chú thích xuất xứ, nguyên văn…, để tiện cho người dạy,
người học tham khảo, tra cứu.
Trong
phần trình bày ở mỗi bài giảng, bút giả chia làm năm phần:
1. Hán văn, 2. Phiên âm, 3. Dịch nghĩa, 4. Giảng giải, 5. Dịch
thơ. Phần Hán văn và phiên âm giúp ai học chữ Hán, nhất
là tăng ni sinh lớp sơ cấp có nguyên bản tham khảo, học
hỏi. Phần dịch nghĩa dịch theo nhịp câu năm chữ, tương
ứng với nhịp câu bốn chữ Hán văn, giúp cho việc tụng
đọc và hiểu rõ nghĩa câu chữ Hán. Phần giảng giải là
của Đại sư Tinh Vân, những câu Kinh trích dẫn, bài thơ bài
kệ trong đó, dịch giả phần lớn đều nêu rõ xuất xứ,
nguyên văn ở phần cước chú, rất tiện cho việc đối chiếu,
nghiên cứu thêm. Phần dịch thơ được dịch theo thể song
thất lục bát, chú trọng âm vận, nhưng không đánh mất nguyên
ý, nhằm giúp cho việc ghi nhớ, thọ trì mỗi ngày.
Trong
phần xuất xứ, ghi tắt dựa theo qui định học thuật quốc
tế. Ví dụ xuất xứ ghi: (T09, no. 278, p. 467, a21~22). Như vậy
có nghĩa: Đại Chánh Tạng, quyển 9, Kinh số 278, trang 467,
phần trên, từ dòng 21 đến dòng 22. Đại Chánh Tạng tức
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh do Nhật Bản biên tập, là
bộ Đại Tạng Kinh phổ biến nhất hiện nay. Một trang Đại
Tạng Kinh chia làm ba phần: phần trên, phần giữa, phần dưới,
dùng a, b, c để ký hiệu.
Trước
khi soạn được một quyển Kinh Bát Đại Nhân Giác Giảng
Giải mang tính giáo khoa và hoàn thiện hơn để sử dụng chính
thức trong các trường Sơ Trung Phật Học Việt Nam, thiết
nghĩ quyển Mười Bài Giảng Kinh Bát Đại Nhân Giác này sẽ
giúp thêm tài liệu tham khảo học tập cho tăng ni sinh trong
nước. Còn đối với người Phật tử nói chung, quyển sách
này sẽ khơi mở cho người đọc một nhận thức đúng đắn
về Phật giáo, tức Bồ tát đạo nhập thế với tinh thần
xuất thế! Đó là:
Sự
đời đã tắt lửa lòng
Vẫn
len vào chốn bụi hồng lợi sinh!
Người
đọc sẽ phát hiện: Giải thoát đạo và Bồ tát đạo bổ
túc và thành tựu cho nhau. Đại thừa và tiểu thừa chỉ xác
định trên tâm lượng rộng lớn hay nhỏ hẹp, mà không phải
ở pháp này thấp, pháp kia cao. Như Kinh Kim Cang nói: "Các pháp
bình đẳng không có cao thấp."
Kinh
Bát đại nhân giác có giá trị về tư tưởng và hành trì
như vậy, mong rằng những ai là đệ tử Phật luôn ghi nhớ,
tụng niệm mỗi ngày, để tự tỉnh thức và thức tỉnh mọi
người, cùng sống đời Đại nhân an lạc, giải thoát.
Cuối
cùng, xin dẫn lời của Đại sư Tinh Vân để thay lời kết:
Tám điều giác ngộ như la bàn của nhà đi biển, chỉ ra con
đường phía trước cho nhân sinh! Tám điều giác ngộ như
tiếng chuông vang vọng giữa đêm trường, thức tỉnh những
ai đang còn mơ màng trong giấc mộng! Đây chính là Thánh điển
chỉ cho chúng sinh nhận rõ đường mê, quay về nẻo giác;
giúp người Phật tử cải thiện cuộc sống, thăng hoa nhân
cách, ngày một tốt đẹp hơn!
Nghiên
cứu Sở Taipei ngày 31/10/2000
Dịch
giả: Thích Minh Quang cẩn chí
LƯỢC
SỬ NGÀI AN THẾ CAO
(Người
dịch Kinh này từ Phạn sang Hán)
Ngài
tên Thanh, tự Thế Cao là vương tử nước An Tức (một nước
cổ thuộc vùng đất Ba Tư, phía tây bắc Ấn Độ hiện nay).
Vì họ của Ngài lấy theo tên nước, nên mới có các tên
như An Thanh, An Hầu, An Thế Cao. Thuở nhỏ, An Thế Cao có tiếng
hiếu thảo, lại thêm thông tuệ, có chí cầu học; các sách
vở nước ngoài, thiên văn, địa lý, y học v.v…, thảy đều
tinh thông. Đặc biệt về phương diện ngôn ngữ, Ngài thông
thạo hơn ba mươi sinh ngữ, cho đến nghe hiểu được tiếng
chim thú. Một hôm, An Thế Cao cùng các bạn đang đi trên đường,
bổng gặp một đàn chim én ríu rít, liền nói: Chúng bảo
nhau sắp có người đem thức ăn đến. Một lát sau quả nhiên
như vậy! Mọi người ai cũng lấy làm kinh dị. Tiếng tăm
của Ngài vì thế sớm đã lừng lẫy khắp nơi.
Thế
Cao tuy ở nhà mà giữ gìn giới pháp vô cùng nghiêm tịnh.
Sau khi vua cha mất, Ngài lên nối ngôi, song do thấu đáo lẽ
vô thường khổ không, nên sớm đã xem vinh hoa phú quý như
bèo bọt mây nổi. Khi mãn tang cha xong, Thế Cao liền nhường
ngôi lại cho chú, còn mình xuất gia du phương học đạo. Với
tài đức sẵn có, chẳng bao lâu Ngài đã thông đạt Tam Tạng,
sở trường về A Tỳ Đàm và thiền quán đến mức nhập
diệu. Sau đó, Thế Cao đi qua các nước ở Tây Vực để hoằng
hóa; vào niên hiệu Kiến Hòa thứ 2 đời Đông Hán Hoàn Đế
(148), lại đến Lạc Dương Trung Quốc. Với sức thông tuệ
nghe một biết ngàn, Ngài ở đây chẳng bao lâu đã thông thạo
tiếng Hoa và tham gia công tác dịch thuật hơn hai mươi năm
(đến niên hiệu Kiến Ninh thứ 3 đời Hán Linh Đế – 170).
Đây là thời kỳ đầu của Phật giáo Trung Quốc, thuật ngữ
Phật giáo còn chưa phong phú, ít có người thông thạo cả
hai thứ tiếng Phạn và Hoa nên việc dịch thuật rất khó
khăn và khó tránh có chỗ lầm lẫn. Thế Cao nhờ là người
Tây Vực, lại thông thạo cả hai ngôn ngữ, nên dịch Kinh
rất chính xác. Kinh điển Ngài dịch nghĩa lý rõ ràng, văn
từ xác đáng, lời không hoa mỹ mà văn chất lại chẳng quê
mùa chút nào. Độc giả đọc văn, ai cũng say mê không biến
chán. Ngài được đánh giá là vị đứng đầu trong các nhà
dịch thuật thời đó, là một trong những vị mở đường,
đặt nền móng cho Phật giáo Trung Quốc. Những Kinh Ngài dịch
như An Ban Thủ Ý, Ấm Trì Nhập, A Tỳ Đàm, Ngũ Pháp Tứ Đế,
Thập Nhị Nhân Duyên, Chuyển Pháp Luân, Bát Chánh Đạo, Thiền
Hành Pháp Tưởng , Tu Hành Đạo v.v…, khoảng ba mươi bốn
bộ, bốn mươi quyển. Đây là theo Tam Tạng Ký. Ngoài ra còn
nhiều thuyết khác, như Cao Tăng Truyện nói có ba mươi chín
bộ….
Thế
Cao là người thông đạt sự lý, biết rõ nghiệp duyên của
mình. Sự tích thần dị về đời Ngài thật không ai lường
nổi.Thế Cao từng nói tiền thân của mình là một vị xuất
gia ở chung với người bạn đồng tu. Vị này ưa thích bố
thí cúng dường nhưng tánh tình lại hay sân hận. Mỗi khi
đi khất thực, gặp thí chủ nào trái ý là ông liền nổi
giận. Thế Cao từng nhiều lần khuyên bảo mà ông ta vẫn
không ăn năn cải đổi. Như thế hơn hai mươi năm, một hôm
Ngài từ biệt người bạn ấy ra đi, nói rằng:
- Tôi
đi Quảng Châu để trả cho hết túc nghiệp. Ông tinh tấn,
thông đạt Kinh điển chẳng kém gì tôi, nhưng tánh còn nhiều
sân hận. Sau khi mạng chung, e rằng ông phải bị đọa, mang
thân hình xấu xa đáng sợ. Nếu tôi đắc đạo sẽ đến
độ ông.
Sau
đó Thế Cao đến Quảng Châu, gặp thời giặc cướp hoành
hành, khắp nơi loạn lạc. Trên đường Ngài gặp một tên
thiếu niên, hắn ta rút dao ra nói:
- Ta
tìm gặp được ngươi rồi!
Ngài
mỉm cười trả lời:
- Ta
vì đời trước mắc nợ mạng của ông, nên từ xa đến đây
để trả. Ông sở dĩ gặp ta liền nổi sân, là do có lòng
hờn giận từ đời trước.
Nói
xong, thản nhiên không chút sợ hãi, ung dung đưa cổ cho chém!
Lúc ấy, người xem đứng chật cả hai bên đường, không
ai là không kinh dị.
Sau
đó, thần thức Thế Cao thác sinh lại làm vương tử nước
An Tức, chính là An Thế Cao hiện đời. Sau khi du hóa Trung
Quốc, việc dịch Kinh hoằng Pháp đã xong, gặp loạn Mạc
Quan Lạc thời Hán Linh Đế (niên hiệu Kiến Ninh thứ ba -
170) Ngài bèn chấn tích đi đến Giang Nam, nói rằng: Tôi sẽ
đến Giang Nam để độ người bạn đồng tu xưa.
Thuyền
đi đến hồ Cung Đình. Nơi đây có một miếu thờ thần nổi
tiếng linh thiêng. Các thương khách đi ngang nếu ghé lại cúng
lễ, thì đi đường sẽ xuôi buồm thuận gió. Trước đây
từng có người đến đốn trộm trúc trồng ở quanh miếu,
rồi cho thuyền chở đi. Nhưng thuyền đi được một đỗi
liền bị lật chìm, trúc trôi trở lại nơi cũ. Từ đó thuyền
nhân đều kinh sợ, không ai dám động phạm đến miếu này.
Lúc An Thế Cao cùng hơn ba mươi người khách đồng thuyền
đi ngang qua, một vài người đại diện mang lễ vật lên miếu
cúng tế để cầu bình an. Thần miếu liền giáng xuống bảo
rằng: Trong thuyền có Sa môn, xin mời lên đây! Mọi người
đều kinh ngạc, vội mời An Thế Cao lên miếu.
Ngài
vào miếu, thần liền bảo:
- Thuở
xưa tôi cùng Ngài xuất gia học đạo. Tôi thích bố thí mà
tánh lại hay sân hận nên phải bị đọa làm thần giữ miếu
ở hồ Cung Đình, cai quản chu vi cả ngàn dặm. Tôi nhờ phước
bố thí nên tài vật dồi dào, song do sân hận phải bị đọa
làm thần giữ miếu. Nay gặp lại bạn tu xưa thật vui buồn
lẫn lộn, khôn xiết bùi ngùi. Thọ mạng tôi chẳng còn bao
lâu. Thân hình to lớn xấu ác của tôi nếu chết ở đây
e rằng sẽ làm ô uế sông hồ, nên định dời sang đầm Sơn
Tây. Tôi chết đi sợ sẽ đọa vào địa ngục. Tôi có ngàn
xấp lụa và các thứ bảo vật, xin Ngài nhận lấy để xây
chùa tháp, cầu siêu độ cho tôi.
An
Thế Cao nói:
- Tôi
đến đây là cốt để độ ông. Sao ông không hiện ra cho
thấy nguyên hình?
Thần
đáp:
- Thân
tôi quá xấu xa đáng sợ, e rằng khiến mọi người kinh hãi.
Thế
Cao bảo:
- Xin
chỉ hiện một phần nào mà mọi người trông thấy không
kinh sợ.
Thần
liền từ phía sau giường đưa đầu lên. Thì ra là con mãng
xà lớn, không biết cả mình dài bao nhiêu, chỉ thấy đầu
cao đến gối. Ngài An Thế Cao liền đọc vài biến Kinh tiếng
Phạn cho nó nghe. Nghe xong, mãng xà buồn bã, lệ rơi lã chã,
giây lát liền ẩn mất.
Sau
đó, Thế Cao thu dọn lụa là và đồ vật trong miếu rồi
xuống thuyền ra đi. Thuyền dong buồm rời bến, mãng xà leo
lên núi nhìn theo đến hút tầm mắt. Khi đến Dự Chương,
Ngài đem những đồ vật của thần miếu dùng vào việc xây
cất chùa Đông Tự.
Lúc
Thế Cao đi rồi, thần mạng chung. Tối đến, mọi người
thấy có một thiếu niên đến quì trước An Thế Cao nhận
lời chú nguyện, giây lát bổng nhiên không thấy đâu cả.
Thế Cao nói với những người chung thuyền:
- Thiếu
niên đó chính là vị thần ở ngôi miếu tại hồ Cung Đình,
nay đã thoát được thân xấu ác.
Từ
đó miếu hết linh thiêng. Sau này người ta thấy một con mãng
xà rất lớn chết ở đầm Sơn Tây, đầu đuôi dài đến
mấy dặm! Nơi đây nay trở thành Xà thôn (làng Rắn) ở huyện
Tầm Dương.
An
Thế Cao sau đó đi Quảng Châu, tìm đến nhà vị thiếu niên
đời trước giết mình. Vị thiếu niên kia nay vẫn còn, song
đã trở thành ông lão tóc bạc. Thế Cao gặp vị đó, liền
nhắc lại chuyện trả nợ mạng xưa kia của mình và nói rõ
nhân duyên đời trước, rồi hoan hỷ bảo: Ta nay vẫn còn
chút dư báo, nên phải đi Cối Kê để trả cho xong!
Vị
khách Quảng Châu đó nhận ra Thế Cao là bậc phi phàm nên
chợt tỉnh ngộ, ăn năn tội lỗi trước kia. Từ đó vô cùng
cung kính An Thế Cao và tình nguyện đi theo đến Cối Kê. Đến
nơi vào chợ, gặp lúc có loạn, người ta đánh lầm trúng
đầu Ngài, nhân đó liền qua đời. Vị khách Quảng Châu hai
lần chứng kiến việc trả báo của Ngài nên vô cùng tin sợ
nhân quả, tinh tấn tu tập và thuật lại đầu đuôi câu chuyện
này cho mọi người biết. Xa gần hay biết, không ai là không
thương tiếc!
Soạn
dịch theo Cao Tăng Truyện và Phật Quang Đại Từ Điển
BÀI
GIẢNG THỨ I
KHÁI
THUẬT VỀ KINH BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC
Tôi
rất hoan hỷ khi giảng Kinh Bát Đại Nhân Giác, bộ thánh điển
ứng dụng nhập thế của Phật giáo, trước các vị thính
chúng.
Trước
khi giảng vào nội dung, tôi xin thuật khái quát về bộ Kinh
này.
Tôi
dự định sẽ giảng bộ Kinh này trong mười buổi. Kinh tên
là Bát Đại Nhân Giác, nội dung có tám điều giác ngộ của
bậc đại nhân. Mỗi một điều tôi sẽ giảng trong một bài,
nên phần chánh tông sẽ có tám bài giảng. Còn đề Kinh, dịch
giả, phần tự tôi sẽ giảng một bài trong phần khái thuật.
Phần lưu thông ở cuối Kinh văn là phần tổng kết, cũng
giảng một bài. Như vậy, tổng cộng là mười bài giảng.
Vì thế giảng thuyết Kinh này, tôi gọi là Mười Bài Giảng
Kinh Bát Đại Nhân Giác(Phật Thuyết Bát Đại Nhân Giác Kinh
Thập Giảng).
NHÂN
DUYÊN PHẬT NÓI KINH NÀY
Phàm
một việc gì cũng có nhân duyên của nó. Đức Phật vì sao
lại giảng Kinh này? Tất nhiên đây cũng có nhân duyên. Đó
là lúc Phật ở tinh xá Kỳ Viên, một hôm trong Pháp hội,
tôn giả A Na Luật thiên nhãn đệ nhất thưa với Phật rằng:
- Bạch
Đức Thế Tôn, trong Tăng đoàn với tinh thần lục hòa, thì
việc quên mình, xả bỏ tự ngã là điều chúng con có thể
làm được; đối với chúng sanh phải tuyệt đối từ bi,
tuyệt đối nhân ái, đây cũng là điều mà chúng con đã biết…
Nhưng bạch đức Thế Tôn! Những Phật tử tại gia học đạo
rất nhiều, đệ tử xuất gia tiếp cận xã hội hoằng Pháp
lợi sinh cũng rất đông. Những vị như vậy làm thế nào
để cầu được giác ngộ, tiến nhập niết bàn? Cúi xin đức
Thế Tôn từ bi khai thị!
Đức
Phật an lành mĩm cười, hoan hỷ trả lời:
- Này
A Na Luật, lời nói của ông rất đúng. Điều ông hỏi là
vấn đề học hạnh Đại nhân (Bồ tát). Tôi sẽ vì ông mà
nói tám điều giác ngộ của bậc Đại nhân, mà đệ tử
Phật nên ngày đêm chí tâm tụng niệm….
Đây
chính là nhân duyên đức Phật giảng nói Kinh này.
BỐ
CỤC KINH VĂN
Mở
đầu tất cả Kinh Phật đều có: Ta nghe như vầy, một thuở
Phật ở nơi đâu, cùng với ai v.v…., gọi là sáu việc thành
tựu. Vậy tại sao Kinh này lại không có? Đây là do Kinh này
không phải đức Phật nói ra trong một Pháp hội, mà là trích
đoạn những lời Phật dạy trong các Kinh khác, rồi biên tập
lại, nên phần tự của Kinh không có những câu Ta nghe như
vầy v.v…, và phần lưu thông ở sau cũng không có câu: Tin
nhận vâng làm.
Bố
cục của Kinh tuy không giống với các kinh khác, song vẫn có
đầu đuôi, điều mục rõ ràng, người học rất dễ dàng
nắm được bản ý của Kinh văn.
NỘI
DUNG VÀ GIÁ TRỊ
Trong
Phật giáo, phần đông các đại đức đều thừa nhận Kinh
này rất thích hợp cho hàng Phật tử tại gia thọ trì. Chúng
ta thường nghe người ta đề xướng khẩu hiệu: Phật giáo
nhân sinh, Phật giáo tại gia. Nhưng rốt cuộc làm thế nào
để kiến lập nhân sinh Phật giáo? Như thế nào mới là tại
gia Phật giáo? Điều này nhất định phải y cứ vào thánh
ngôn lượng để quyết đoán. Theo tôi nghĩ, Kinh này là một
quyển bảo điển trân quí nhất, để kiến lập nhân sinh
Phật giáo, tu học tại gia Phật giáo.
Phật
giáo tuy có xuất gia, tại gia, song tín đồ tại gia lại chiếm
đa số; Phật giáo lại chia làm nhập thế và xuất thế, nhưng
tinh thần vẫn chú trọng nhập thế; Phật giáo lại có nhân
sinh trong hiện thật và thọ sinh ở đời sau, nhưng trọng
điểm vẫn là nhân sinh trong hiện thật.
Kinh
nói:
Phật
Pháp vốn ở thế gian
Xin
đừng tìm kiếm muôn ngàn cõi xa
Bồ
đề sẳn tại lòng ta
Tìm
ngoài cuộc sống, chỉ là uổng công!
Đại
sư Thái Hư cũng nói: "Chỉ mong cầu quả Phật, song thành tựu
hay không là ở nơi nhân cách; nhân cách thành tựu thì Phật
thành tựu, đây chính là thực tế chân thật." Như vậy đủ
thấy, Phật giáo nhân sinh và Phật giáo tại gia có địa vị
quan trọng như thế nào!
Do
đó, Kinh Bát Đại Nhân Giác, quyển sách quí ứng dụng vào
nhân sinh nhập thế này, Kinh văn tuy ngắn chỉ vài trăm chữ
mà giá trị lại vô cùng trọng yếu! Tám điều giác ngộ
như la bàn của nhà đi biển, chỉ ra con đường phía trước
cho nhân sinh! Tám điều giác ngộ như tiếng chuông vang vọng
giữa đêm trường, đánh thức những ai còn mơ màng trong giấc
mộng! Cho nên, đây là Thánh điển giúp chúng sinh nhận rõ
đường mê, quay về nẻo giác; giúp người Phật tử tại
gia cải thiện, thăng hoa cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn!
GIẢI
THÍCH ĐỀ KINH
Hán
văn:
Phật
thuyết Kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân.
Giảng
nghĩa:
Đức
Phật Bổn sư Thích Ca Mâu Ni vốn là vương tử nước Ca Tỳ
La Vệ ở Ấn Độ. Vì muốn liễu sinh thoát tử, cứu độ
chúng sinh, nên vào năm mười chín tuổi Ngài quyết tâm lìa
bỏ ngôi vua, xuất gia học đạo. Năm ba mươi mốt tuổi Ngài
thành tựu Vô thượng Chánh giác dước cội Bồ đề. Sau bốn
mươi chín năm thuyết Pháp độ sinh, Ngài nhập Niết bàn ở
nước Câu Hy La, giữa hai cội cây Sala, khi vừa đúng tám mươi
tuổi. Tất cả tựa đề Kinh Phật đều có hai chữ Phật
thuyết, có nghĩa tất cả Kinh điển đều do đức Phật Bổn
sư Thích Ca Mâu Ni nói ra. Kinh này đương nhiên cũng không ngoại
lệ.
Khi
giảng đề Kinh này, chúng ta trước phải hiểu ý nghĩa hai
chữ Đại nhân. Vì đại nhân ở đây không đồng nghĩa với
chữ đại nhân trong khái niệm đại nhân va tiểu nhân. Song
nó cũng không phải chỉ người làm quan lớn, hay nhà kinh doanh
buôn bán lớn, vì Kinh này không phải chỉ cách cho người
ta thăng quan hay phát tài! Thực ra, Đại nhân ở đây là chỉ
người lo việc liễu sinh thoát tử và rộng độ chúng sinh,
cũng chính là ý Bồ tát! ( Dịch giả viết hoa chữ Đại nhân,
cũng là để phân biệt với chữ đại nhân theo nghĩa mà người
Trung Quốc thường dùng. )
Bồ
tát nói lược của Bồ đề tát đỏa, dịch ý là giác hữu
tình, tức là người lo viê? giác ngộ cho mình và người;
hay Đại đạo tâm chúng sinh, tức chúng sinh phát đạo tâm
lớn, trên cầu thành Phật dưới độ chúng sinh. Chúng tôi
vừa nói đến Bồ tát, có người liền nghĩ đến Bồ tát
Quan Âm, Bồ tát Địa Tạng v.v…. Vâng, các vị đó đều
là Bồ tát. Nhưng Bồ tát Đại nhân ở đây chủ yếu là
chỉ những người bước vào cửa Phật, phát tâm học đạo.
Các vị nghe xong chắc muốn hỏi: Người sao lại có thể gọi
là Bồ tát? Thực ra, Bồ tát không phải là tranh ảnh, cũng
không phải là những pho tượng làm bằng đồng, xi măng, thạch
cao v.v…, được bày ở điện Tam Bảo cho người cúng dường
lễ bái. Bồ tát là tượng trưng cho những đức tính sống
động trong nhân sinh. Ai có nhiệt tình vô hạn, bi nguyện vô
lượng, có thể làm lợi ích cho mình, cho người, mới là
Bồ tát sống chân chính!
Thế
gian chỉ cần thêm một vị phát tâm Bồ đề: Trên cầu Phật
đạo, dưới độ chúng sinh, thì sẽ thêm một vị Bồ tát.
Bồ tát vốn chia ra rất nhiều bậc: Thập tín, thập hạnh,
thập trụ, thập hồi hướng, thập địa, diệu giác v.v…,
tất cả có năm mươi mốt bậc. Các vị Bồ tát Quán Âm,
Địa Tạng, Văn Thù, Phổ Hiền đương nhiên đều là Bồ
tát từ thập địa trở lên. Nhưng nếu các vị là những
người phát tâm gánh vác sự nghiệp lớn giải thoát sinh tử,
hóa độ chúng sinh, thì cũng có thể gọi là Bồ tát. Song
đây chẳng qua chỉ là Bồ tát mới phát tâm, hay Bồ tát mới
khởi lòng tin. Kinh này có tám phương pháp tu hành thành Phật,
mà bậc Đại nhân gánh vác sự nghiệp lớn liễu sinh thoát
tử, hóa độ chúng sinh cần phải giác ngo? nên gọi là Kinh
Tám Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân. (Bát Đại Nhân Giác
Kinh).
Nói
đến sự giác ngộ của Bồ tát, là muốn đề cập vấn đề
tâm yếu trong Phật giáo. Phật giáo là tôn giáo cốt đem lại
sự giác ngộ cho chúng sinh. Đức Phật vì một nhân duyên
lớn mà thị hiện ra đời, đó là khiến chúng sanh thể nhập
tri kiến Phật; chỉ dẫn chúng sinh bước đi trên con đường
giác ngộ. Ngược lại với giác là mê. Chúng sinh lang thang
trong sinh tử, trôi lăn nơi sáu đường, quên mất bản lai
diện mục của mình, nên gọi là mê. Nay biết luân hồi là
khổ, sinh tử đáng sợ, nhận ra rằng phải dựa theo tám Pháp
môn mà Kinh này chỉ dạy để tu hành, hầu mong giác ngộ,
giải thoát, gọi là giác.
Tập
hợp tám ý nghĩa giúp chúng sanh giác ngộ lại, gọi là Kinh.
Kinh có nghĩa là con đường thẳng. Noi theo con đường thẳng
mà Phật chỉ dạy để đi, sẽ đạt đến mục đích liễu
sinh thoát tử, tự tại an lạc. Phàm đạo lý mà có thể gọi
là Kinh, thì trên phải kế hợp với chân lý muôn đời không
thay đổi, dưới phải khế hợp với căn cơ chúng sinh muôn
ngàn sai khác. Kinh này do đức Phật nói, là chỗ tu học của
chúng sinh phát Bồ đề tâm, cho nên tên là Phật Thuyết Kinh
Tám Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân. (Bát Đại Nhân Giác
Kinh).
KHẢO
CHỨNG VỀ NGƯỜI DỊCH
Sa
môn An Thế Cao, nước An Tức, đời Hậu Hán dịch.
Giảng
Nghĩa:
Tất
cả Kinh điển Phật nói vốn được ghi chép bằng Phạn văn
Ấn Độ, nên phải cần có dịch giả dịch sang chữ Hán.
Người dịch Kinh này là Sa môn Pháp sư An Thế Cao đời Hậu
Hán. Hậu Hán là tên triều đại, chính là nhà Hậu Hán Quang
Vũ Trung Hưng của Trung Quốc. Nước An Tức là nước Ba Tư
hiện nay. Sa môn là chỉ chung cho người học đạo. Người
Hoa dịch nghĩa là cần tức (??), ý nói: Siêng tu giới định
tuệ, dứt trừ tham sân si. Hậu Hán là chỉ thời đại An
Thế Cao ra đời. Nước An Tức là chỉ quê quán, còn Sa môn
là chỉ thân phận của Ngài. An Thế Cao chính là dịch giả
của Kinh này.
Pháp
sư An Thế Cao còn gọi là An Thanh, vốn là vương tử nước
An Tức. Vốn là người xem phú quí vinh hoa chỉ là vô thường,
giả tạm, lại thêm chán cuộc sống vua chúa suốt ngày phải
phiền phức bởi chuyện triều chính, không được tự tại,
nên sau khi lên ngôi không bao lâu, Ngài liền nhường ngôi lại
cho chú, còn mình ra đi xuất gia, chỉ với bình bát, ca sa.
Pháp sư bẩm sinh có thiên tài về ngôn ngữ, thông hiểu hơn
ba mươi thứ tiếng, nhất là tinh thông Hán văn, xem khắp các
Kinh, lại còn nghe hiểu được tiếng chim thú. Đời Ngài sự
tích thần dị rất nhiều, thế gian không sao lường hết chỗ
cao thâm. Vào thời Hán Hoàn Đế, Ngài từ nước An Tức đến
Lạc Dương, phiên dịch Kinh điển tất cả hơn một trăm bộ,
ngày nay còn truyền lại chừng hơn ba mươi bộ. Kinh luận
do Pháp sư phiên dịch nghĩa lý rõ ràng, văn từ xác đáng,
dùng từ không hoa mỹ mà văn chất lại chẳng quê mùa chút
nào. Trong lịch sử phiên dịch Kinh luận thời kỳ đầu ở
Trung Quốc, Pháp sư An Thế Cao được tán thán là vị đứng
đầu. Qua đó có thể thấy, địa vị của Ngài trong giới
dịch thuật cao cả như thế nào.
GIẢNG
VỀ PHẦN TỰA
Việt
dịch:
Là
đệ tử Phật ngày đêm nên thường chí tâm tụng niệm tám
điều giác ngộ của bậc đại nhân.
Giảng
Nghĩa:
Pháp
sư Đạo An đời Đông Tấn đã chia một bộ Kinh làm ba phần:
Phần tự, phần chánh tông và phần lưu thông. Lấy thân thể
con người để tỉ dụ, Phần tự như đầu, phần chánh tông
như thân và phần lưu thông như chân. Pháp sư Đạo An phân
phán như thế, mọi người đều khen là: "Phân phán cao minh
trùm thiên hạ, học giả xưa nay thảy tuân hành". Như vậy
đủ thấy, tính chính xác, cao minh trong sự phân định của
Ngài như thế nào.
Kinh
này tuy không phải đức Phật nói trong một Pháp hội, nhưng
cũng có phần tự, phần chánh tông, phần lưu thông một cách
hoàn chỉnh như những Kinh điển khác. Đoạn Kinh ở trên,
có thể được xem là phần tư, duyên khởi mở đầu cho bản
Kinh này.
Là
đệ tử Phật sớm tối nên có công khoá tu trì nhất định.
Trong các tự viện, phần lớn lấy chú Lăng Nghiêm, Kinh Di
Đà làm công khoá tu tập sớm tối. Thực ra, theo phần tự
của bản Kinh này, muốn thực hành Phật giáo nhân sinh, muốn
cải biến khí chất thân tâm của con người, phải lấy Kinh
Bát Đại Nhân Giác làm thời khóa tụng niệm sớm tối! Điều
này thật vô cùng xác đáng.
Người
Phật tử tại gia đương nhiên nên sớm tối thọ trì quyển
Kinh này, song hàng đệ tử xuất gia còn cần phải thọ trì
hơn nữa. Đệ tử Phật không có phân biệt gái trai già trẻ,
giàu nghèo sang hèn, xuất gia, tại gia. Chỉ cần phát tâm tin
Phật, quy y Tam Bảo, thực hành theo lời Phật dạy, đều gọi
là đệ tử Phật.
Đệ
tử Phật phải đem tâm chí thành chí thiết, không giả dối,
tạp loạn, bốn mùa xuân hạ thu đông chẳng kể là sớm hay
tối, đều phải luôn luôn ghi nhớ, miên mật quán niệm tám
điều mà Bồ tát nên giác ngộ này. Hoặc lớn tiếng tụng
đọc, hoặc niệm thầm trong tâm đều là cách tu trì tốt
nhất.
Đệ
tử Phật có bảy chúng: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Thức xoa ma na
ni, Sa di, Sa di ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di. Kinh này đặc biệt
thích hợp cho hàng Ưu bà tắc, Ưu bà di thọ trì hơn cả.
Chúng
tôi nay đem tám điều giác ngộ trong Kinh Bát Đại Nhân Giác
trình bày ở biểu đồ sau. Sau này chúng tôi sẽ dựa vào
biểu đồ để giảng giải, mong rằng mọi người cùng chí
tâm thọ trì.
Dịch
thơ:
Người
con Phật phát tâm học đạo
Luôn
ngày đêm y giáo phụng hành
Đại
nhân giác ngộ đành rành
Tám
điều ghi nhớ, chí thành niệm tu.
BÀI
GIẢNG THỨ II
THẾ
GIAN QUAN CỦA PHẬT GIÁO
Phiên
Âm:
Đệ
nhất giác ngộ: Thế gian vô thường, quốc độ nguy thúy,
tứ đại khổ không, ngũ ấm vô ngã, sinh diệt biến dị,
hư ngụy vô chủ, tâm thị ác nguyên, hình vi tội tẩu; như
thị quán sát, tiệm ly sinh tử.
Dịch
Nghĩa:
Điều
giác ngộ thứ nhất: Thế gian vốn vô thường, cõi nước
rất mong manh, bốn đại lại khổ không, năm ấm là vô ngã,
luôn sinh diệt biến đổi, giả dối không có chủ, tâm là
nguồn việc ác, thân là rừng nghiệp tội; nếu quán sát như
thế, lần lần lìa sinh tử.
Giảng
giải:
Đây
là điều giác ngộ thứ nhất mà người tu học Bồ tát đạo,
lo việc liễu sinh thoát tư cần phải có.
Đoạn
Kinh văn này có thể nói đã chỉ tổng quát thế gian quan của
Phật giáo. Kinh văn nói: Thế gian vô thường, cõi nước mong
manh là vô thường quán; bốn đại khổ không là khổ không
quán; ngũ ấm vô nga là vô ngã quán; tâm là nguồn ác, thân
là rừng tội là bất tịnh quán.
Trước
hết tôi xin giảng về thế gian vô thường quán. Thế gian
là chỉ thời gian và không gian. Thế là thời gian ba đời:
Quá khứ, hiện tại, vị lai; gian là không gian mười phương:
Đông, tây, nam, bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc,
phương trên, phương dưới.
Thế
gian cũng đồng nghĩa với vũ tru. Thời gian từ xưa đến nay
gọi là vũ; không gian bốn phương trên dưới gọi là tru.
Chúng ta sống trong không gian vô cùng và thời gian vô tận
tất phải có nhận thức về thế gian. Trong phật giáo, thế
gian không phải chỉ là hiện tượng trong thế giới tự nhiên,
mà tất cả vũ trụ và nhân sinh đều gọi chung là thế gian.
Vũ trụ quốc độ mà chúng sinh nương tựa gọi là khí thế
gian; sắc thân của chúng sinh do hoặc nghiệp tạo thành phải
chịu sinh tử là hữu tình thế gian.
Anh
thấy chăng?
Hoàng
hà nước tự trời cao
Xuôi
ra biển cả chẳng bao giờ về.
Anh
thấy chăng?
Cha
soi kính tóc bạc phơ
Sớm
tơ tối tuyết, ngẫn ngơ chợt buồn!
(Tương
Tiến Tửu – Lý Bạch)
Vì
chúng ta không biết thế gian vô thường, nên đã sinh ra nhận
thức sai lầm, cho rằng mọi sự vật là thật có, rồi khởi
tâm tham luyến, chấp trước. Song cuối cùng nhìn lại, có
mấy ai thắng vượt được vô thường?
Kinh
Kim Cang nói:
Tất
cả pháp hữu vi
Như
mộng, huyễn, bọt, bóng
Như
sương sớm, điện chớp
Nên
quán chiếu như vậy.
Đại
Trí Độ Luận cũng nói:
Thế
gian biết mấy vô thường!
Bóng
trăng, thân chuối, giả nương hợp thành.
Phước
dù đến tận trời xanh
Gió
vô thường đến, hóa thành hư vô!
Phú
quí vinh hoa trong đời khác chi giấc mộng giữa đêm. Ngay như
tấm thân mà ta mỗi ngày tắm rửa, quí tiếc, rốt cuộc sống
được bao năm? Hoàn cảnh, thân thể, tâm lý đều đang hoạt
động, đang thay đổi từng phút từng giây, không ngừng lưu
chuyển. Ruộng dâu ngày xưa nay đã trở thành biển cả; biển
cả bây giờ rồi sẽ hóa ra ruộng dâu ở tương lai! Cho nên
tục ngữ bảo: Bãi bể nương dâu là vậy. Như thế, trong
thế gian này có cái gì là trường cửu? Có cái gì là chân
thật đâu? Nếu bảo thế gian có cái gì chân thật, thì đó
chính là vô thường! Tất cả đều vô thường, huyễn hóa,
như áng mây trôi giữa trời cao, như bọt nước trên đầu
ngọn sóng, như bóng hoa ảnh hiện trong gương, như ánh trăng
long lanh trên nước!
Thế
gian đã vô thường, thì cõi nước mong manh (nguy thúy) là điều
tất nhiên không cần nói nữa. Cõi nước không an gọi là
nguy, chẳng thật gọi là thúy. Không nói chi xa, chỉ xem động
đất ở Đài Loan và Nhật Bản cũng đủ thấy. Mỗi lần
động đất có biết bao tài sản bị tổn thất, sinh mạng
bị tử vong! Cõi nước như vậy, chẳng phải mong manh là gì?
Ở
trên đã giảng rõ thế gian vô thường quán rồi, giờ lại
giải thích tiếp tứ đại khổ không quán. Chúng ta thường
nghe người không thông hiểu Phật Pháp cũng biết nói câu
tứ đại giai không. Chẳng qua tứ đại giai không ở đây
nói, không phải như người ta thường hiểu lầm, cho rằng
tứ đại là tửu, sắc, tài, khí và tứ đại giai không là
không tham luyến tửu, sắc, tài, khí. Thực ra, tứ đại khổ
không mà đức Phật ở đây, là thuyết minh về bản chất
của hiện tượng nhân sinh và thế giới.
Nói
tứ đại là chỉ bốn nguyên tố tổ hợp thành vật thể.
Nhỏ từ cánh hoa cọng cỏ, lớn đến thế giới, nhân sinh,
không một thứ nào là không do bốn nguyên tố này kết hợp
tạo thành. Bốn nguyên tố là đất, nước, lửa, gió (địa,
thủy, hỏa, phong). Đất là chất mang tính chất rắn chắc,
nước là chất mang tính ẩm ướt, lửa là chất mang tính
ấm nóng, gió chất mang tính lưu động. Tất cả hiện tượng
trong vũ trụ không có thứ nào là không do bốn chất này hợp
thành. Ví dụ lấy con người nói, lông, tóc, móng, răng, thịt,
da, gân, xương… mang tính rắn chắc là địa đại; đàm,
dãi, nước tiểu… mang tính ẩm ướt là thủy đại; nhiệt
độ trong người mang tính ấm nóng là hỏa đại; hơi thở
ra vào mang tính lưu động là phong đại.
Người
ta sống là do bốn đại hòa hợp. Nếu bốn đại không điều
hòa sẽ sinh ra bệnh, bốn đại phân tán sẽ đưa đến tử
vong. Người đã như vậy, hoa cỏ cũng như vậy. Như một cây
hoa cần phải có đất để lấy chất dinh dưỡng (địa đại),
cần có nước tưới thích nghi (thủy đại), cần có ánh nắng
của mặt trời sưởi ấm (hỏa đại), cần có không khí lưu
động (phong đại) mới mọc lên tươi tốt và đơm hoa kết
nụ. Thiếu một trong bốn điều kiện này, hoa không thể nào
sống được.
Thân
tứ đại hòa hợp của con người sao lại nói là khổ không?
Nhà triết học Lão Đam (Lão tử) nói: "Ta sở dĩ có tai hoạn
lớn là do ta có thân; nếu ta không có thân, làm gì có tai
hoạn!" Thân thể chúng ta chỉ là chỗ tích tụ của các khổ.
Trong tâm thì có các khổ phiền não: tham, sân, si; trên thân
thì có các khổ: già, bệnh, chết; ở gia đình thì khổ vì
lo ăn lo mặc, ân ái xa lìa; ngoài xã hội lại khổ do đấu
tranh phải trái, oán thù gặp gỡ; còn hoàn cảnh lại khổ
vì bão lụt, động đất, chiến tranh. Khổ cứ luôn đeo đẳng,
khống chế chúng ta. Thật đúng là chúng sinh đang sống trong
biển khổ!
Có
một số người mới học Phật Pháp, nghe nói đến chữ khổ,
liền cho học Phật chính là học chịu đựng đau khổ, không
chịu đựng được khổ, thì không thể nào học Phật! Thực
ra, đây là cách nói hoàn toàn sai lầm. Phật giáo là một
tôn giáo an lạc hạnh phúc. Chúng ta vì muốn lìa khổ được
vui, nên mới tu học Phật Pháp. Người tu học Phật Pháp trước
hết phải nhận thức đúng đắn về khổ. Ý thức được
khổ mới biết tìm cầu an lạc. Nếu như sống trong khổ mà
không cho là khổ, hoặc sống trong khổ mà lại cho là vui,
thì người như thế làm sao chịu tu học Phật Pháp?
Biết
khổ chính là cánh cửa bước vào đạo.
Thuở
xưa, có đôi vợ chồng sống trong một ngôi làng xa xôi hẻo
lánh. Hai người cực khổ làm ăn, dành dụm tài sản rất
nhiều, nhưng tuy lớn tuổi mà vẫn hiếm muộn. Họ đi cầu
cúng mọi nơi, xin Phật trời ban cho đứa con, mà mãi vẫn
không được như nguyện. Hai vợ chồng già tha thiết muốn
biết rõ nguyên nhân vì sao mình hiếm muộn, nhưng không biết
hỏi ai, vì trong làng không có người đạo hạnh. Ngày kia,
có một vị mới xuất gia đi du phương ghé ngang. Hai vợ chồng
vừa trông thấy liền mừng rỡ, mời vị ấy về nhà để
cúng dường. Thọ trai xong, hai người mới thỉnh vị xuất
gia thuyết Pháp, khai thị về nguyên nhân không có con. Vị
này vì mới xuất gia, chưa biết thuyết Pháp, nên rất bối
rối không biết nói như thế nào mới phải. Vợ chồng ấy
thành tâm thành ý quỳ trước ghế, phủ phục sát đất không
ngước đầu lên. Vị xuất gia thấy vậy trong ruột nóng như
thiêu, nghĩ rằng mình là người xuất gia không lẽ lại bảo
là không hiểu Phật Pháp, không biết thuyết Pháp hay sao? Lúc
ấy vị đó mới cảm thấy làm người xuất gia quả thật
rất khó, bất giác buột miệng thốt lên: Quả thật là khó!
Hai
vợ chồng quỳ dưới đất nghe câu ấy, thấy nói trúng tâm
trạng của mình. Họ cảm thấy câu khai thị này thật là
danh ngôn chí lý, cả hai người cầu xin chút con mà làm cách
nào cũng không cầu được, quả thật là khó! Hai người vô
cùng cảm động vội dập đầu lễ bái không ngừng!
Ngồi
ở trên thấy đôi vợ chồng đó chí thành như thế, vị này
càng thêm bối rối, tiến thoái lưỡng nan, thấp thỏm như
ngồi trên bàn chông, mồ hôi ướt đầm cả người, buột
miệng than rằng: Quả thật là khổ!
Câu
này vừa thốt ra, cả hai vợ chồng như nghe được tiếng
chuông thức tỉnh, thấy rõ chân lý. Mình cao tuổi như thế
này mà ngay một đứa con cũng không có, quả thật là kho?!
Cuộc đời quả thật là khổ! Hai vợ chồng xúc động sâu
xa, vừa quỳ vừa khóc, nước mắt đầm đìa. Vị mới xuất
gia thấy vậy không biết tính sao, ba mươi sáu kế, rút lui
là thượng sách!
Hai
vợ chồng khóc lóc hồi lâu, lại lắng nghe chờ khai thị
tiếp nhưng không thấy nói gì, vội ngước lên nhìn thì vị
xuất gia ấy đã đi mất tự bao giờ! Hai người cho rằng
đây chính là Phật Bồ tát thị hiện, chỉ cho họ biết cuộc
đời là đau khổ. Từ đó họ trở nên ngưòi Phật tử thuần
thành, tin sâu Phật Pháp, tinh tấn tu học, cuối cùng được
giải thoát khỏi não phiền.
Cho
nên, ý thức được khổ mới biết cầu giải thoát; khổ
cũng chính là tăng thượng duyên cho người học đạo.
Sao
lại nói: Bốn đại khổ không? Trong thế gian, từ thân thể
con người cho đến mọi vật đều do tứ đại hợp thành.
Vì nó do nhân duyên hoà hợp, nên giả tạm, như huyễn, không
chân thật. Trong cái hư giả ấy, con người lại phải chịu
hành hạ bởi tám thứ khổ: Sinh, già, bệnh, chết, ân ái
chia lìa, oán thù gặp gỡ, ước muốn không thành, thân tâm
đều kho? Cho nên nói: Bốn đại khổ không là vậy.
Câu
Năm ấm vô nga là vô ngã quán trong Phật giáo. Năm ấm là
gì? Năm ấm chính là đại danh từ của cái ta (ngã). Năm ấm
gồm có sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Ta là một hợp thể
giữa vật chất và tinh thần. Trong Phật Pháp, vật chất là
sắc; tinh thần là thọ, tưởng, hành, thức.
Sắc
có nghĩa biến ngại (??). Đây là nói tất cả vật thể hữu
hình đều biến đổi vô thường và có sự chướng ngại.
Giữa vạn vật, cái này với cái kia nếu tính chất hợp nhau
thì có chiều hướng kết hợp lại; còn như tính chất trái
nghịch nhau sẽ có chiều hướng tan rã. Kết hợp là tạo
thành, tan rã là hoại diệt.
Thọ
có nghĩa lãnh nạp (??). Cảm giác khổ đau là khổ thọ, cảm
giác vui sướng là lạc tho; khi không đau khổ, không vui sướng
gọi là bất khổ bất lạc thọ.
Tưởng
có nghĩa nắm bắt hình tượng (??). Phan duyên ngoại cảnh,
nhớ việc đã qua, mơ tưởng tương lai đều gọi là tưởng.
Hành
có nghĩa tạo tác (??). Do nắm bắt hình tướng mà có hành
động tạo tác, có khi làm thiện, có khi làm ác. Đây là sức
mạnh của hành.
Thức
có nghĩa phân biệt rõ ràng (??). Như mắt có thể phân biệt
rõ các màu xanh, vàng, trắng, đen; tai có thể phân biệt rõ
âm thanh hay dở; mũi có thể phân biệt rõ các mùi thơm hôi;
lưỡi có thể phân biệt rõ các vị chua, ngọt, cay, đắng;
thân có thể phân biệt rõ cảm giác nóng, lạnh, cứng, mềm.
Sắc
thân do nghiệp báo hình thành của chúng ta sinh rồi lại tử,
tử rồi lại sinh, chính là cái ngã ngũ ấm này. Ấm có nghĩa
là che ngăn (??). Ý nói năm ấm sắc, thọ, tưởng, hành, thức
ngăn che Phật tánh chân như là bản lai diện mục của chúng
ta. Chúng sinh sở dĩ trầm luân trong biển khổ, là do mê lầm
chấp trước, cho rằng cái ngã ngũ ấm này là thật có.
Năm
ấm vô nga chính cùng một ý với Tâm Kinh Bát Nhã nói: "Bồ
tát Quán Tự Tại khi thực hành Bát Nhã Ba La Mật thâm sâu,
sáng soi thấy năm uẩn, đều cùng một tánh không, vượt qua
vòng khổ ách". Năm uẩn cũng chính là năm ấm. Quán chiếu
thấy được năm uẩn đều không, là thể nhận được năm
ấm vô ngã.
Hiện
nay thân ngũ ấm hòa hợp của chúng ta rõ ràng là chân thật.
Thân này hành động tự do, muốn làm gì thì làm, cảm thọ
khổ vui cũng hết sức cụ thể, vậy tại sao lại nói là
năm ấm vô nga?
Thì
ra, cái ngã năm ấm xét kỹ lại chẳng qua là do nhân duyên
tạm thời hòa hợp, không thể thường tồn, không có tự
thể, cho nên nói vô ngã.
Vừa
nghe nói đến không có cái ta (vô nga), người ta nói chung đều
giật mình lo sợ! Hai chữ vô nga như tiếng bom nguyên tử phát
nổ, phá tan tình kiến ngã chấp của chúng sinh, không còn
lưu lại chút dấu vết! Cho nên, người ta đối với lý vô
ngã Đại thừa này, làm sao mà không e sợ? Thực ra, nếu chúng
ta không thể quán chiếu thấy được cái ngã năm ấm là không,
thì không sao hiển lộ được cái ngã chân thật của Phật
tánh. Hư vọng đã dứt trừ, cái chân thật tự nhiên sẽ
hiển hiện, như mây mù tan hết, mới thấy được cảnh trời
xanh trong sáng.
Ngươi
học đạo lâu năm do không thể quán chiếu thấy được năm
ấm vô ngã, nên không cách nào giải thoát, vẫn bị giam cầm
trong thế gian hư giả!
Vào
triều Tống, Thiền sư Phật Ấn ở núi Kim Sơn khi giảng Kinh
trên Pháp tòa, tứ chúng nghe chật cả Pháp đường thì có
cư sĩ Tô Đông Pha làm quan Đại Học Sĩ vừa đến nghe Pháp.
Thiền sư liền dùng cơ ngữ nhà Thiền nói với ông:
- Nơi
đây không có chỗ ngồi của Học sĩ!
Tô
Đông Pha cũng là một vị tham thiền học Phật lâu năm, nghe
qua liền dùng thiền ngữ đáp lại:
- Sao
không mượn tạm thân tứ đại của thiền sư làm tòa ngồi?
- Này
Học sĩ, ông đã muốn lấy thân tứ đại của lão tăng làm
tòa, lão tăng có câu hỏi này, ông nếu đáp được, thì sẽ
đem thân cho ông ngồi. Còn như ông không đáp được, xin đem
đai ngọc để lại chỗ này làm vật trấn sơn môn.
- Được,
được, xin Ngài cứ hỏi!
- Phật
Pháp nói: Bốn đại vốn không, năm ấm vô ngã. Vậy xin hỏi
Học sĩ lấy cái gì làm tòa?
Học
sĩ Tô Đông Pha Kinh luận nằm lòng, thế mà bị Thiền sư
hỏi một câu này cũng đành ngậm miệng, không biết làm sao
đối đáp. Mãi đến ngày nay, Chùa Giang Thiên ở núi Kim Sơn
vẫn còn lưu giữ đai ngọc của Tô Đông Pha, trở thành vật
cổ giá trị liên thành hiếm có!
Kinh
này nói năm ấm vô ngã, cách giải thích tốt nhất vẫn là
lấy văn của Kinh này để giải thích. Vì sao nói năm ấm
vô ngã? Đó là do sinh diệt biến đổi, giả dối vô chủ.
Ở
trên chúng tôi đã giảng qua thân người do nhân duyên hòa
hợp gọi là sinh, nhân duyên ly tán gọi là diệt, thân tâm
loài hữu tình thay đổi không ngừng, khi này khi khác. Cái
ta ngũ uẩn này thực ra là giả dối không thật, không có
tự do, không thể tự tại, không có chủ tể (vô chủ).
Đã
giảng qua thế gian vô thường quán, tứ đại khổ không quán,
ngũ ấm vô ngã quán, sau hết tất nhiên sẽ giảng đến bất
tịnh quán, tức câu: Tâm là nguồn ác, thân là rừng tội.
Lương
tâm! Lương tâm! Tuy mọi người lớn tiếng kêu gọi làm người
phải có lương tâm, nhưng rốt cuộc kẻ thiếu lương tâm
vẫn nhan nhản trong xã hội!
Thân
phạm tội gian dâm, tay phạm tôi trộm cướp, miệng phạm
tội ác khẩu đều do tâm sai sử, tâm làm chủ! Những tội
ác đau thương đến cùng cực, như tạt acid phá hủy nhan sắc
người mình từng thương yêu; giết hại bạn thân lâu năm
rồi phân thây, xóa mất dấu vết…, đều không phải bắt
nguồn từ tâm của con người hay sao?
Con
người vì lòng ích kỷ cá nhân nên bản tính quang minh bị
che mất. Lòng ích kỷ cá nhân quá nặng thì đâu còn kể gì
đến đạo nghĩa, nhân tình, chuyện hại người lợi mình
nào cũng dám làm cả. Trên đời này, từ việc nhỏ như thị
phi, nhân ngã trong gia đình, cho đến việc lớn như đấu tranh
trong xã hội và chiến tranh giữa các quốc gia, đều do tâm
tự tư tự lợi này mà ra cả.
Xã
hội hiện nay đề xướng việc phát minh khoa học, khích lệ
sự tiến bộ nghệ thuật, đều không ngoài mục đích đem
lại an lạc hạnh phúc cho nhân sinh. Nhưng đây vẫn là biện
pháp tương đối, tạm thời, vì khoa học, nghệ thuật không
thể hoàn toàn ngăn được nhân loại phạm tội. Vì vậy,
sau khoa học và nghệ thuật, phải cần phát dương Phật Pháp
là phương pháp trị tận gốc khổ đau, giúp con người khai
mở lương tri, chấm dứt nguồn tâm tự tư tạo tội, khiến
tâm không còn phan duyên nơi cảnh huyễn. Được như vậy,
xã hội sẽ an ninh, thế giới sẽ hòa bình và nhân loại mới
được hạnh phúc chân thật!
Cái
mà người đời yêu quý nhất là thân thể xinh đẹp, quan
tâm nhất là tài sản dồi dào. Nhưng đến phút cuối của
cuộc đời, thân thể, tài sản tất cả đều không mang theo
được! Khi còn sống, thứ mà người ta ít quan tâm nhất đó
là tâm, nhưng đến khi giả biệt cuộc đời, chỉ có nó mới
đi theo chúng ta!
Người
vì thân bận rộn nhọc nhằn thì nhiều, người vì tâm mà
thanh tịnh tu niệm lại ít! Thảo nào thế gian có biết bao
nhiêu điều lầm lỗi thiếu sót! Thân thể, tài sản không
phải là của chúng ta, tâm mới là ông chủ của mình!
Kinh
Hoa Nghiêm nói:
Tâm
như họa sĩ khéo
Vẽ
thế giới muôn màu
Cảnh
ngũ ấm thế gian
Không
pháp nào chẳng tạo.
Lại
nói:
Nên
quán tánh pháp giới
Tất
cả do tâm tạo.
Tâm
là nguồn ác, nhưng tâm cũng là nguồn thiện! Thiện hay ác
chỉ trong một niệm của chúng ta mà thôi. Vì tâm dễ tạo
ác, nên thân hữu vi do tâm tạo nghiệp chiêu cảm ra này cũng
giống như một thùng rác, chứa đầy đồ nhơ uế! Giả sử
đổi ác làm thiện, tuy có thân thể, ngay đó đã thanh tịnh
giải thoát.
Ai
có thể quán tưởng, phản tỉnh, quán sát những đạo lý
trên, thì sẽ lần lần lìa được biển khổ sinh tử! Nên
Kinh văn trong phần tiểu kết ở điều giác ngộ thứ nhất
nói: Nếu quán sát như thế, lần lần lìa sinh tư.
Ở
trên đã giảng qua điều giác ngộ thứ nhất trong Kinh Bát
Đại Nhân Giác. Nay tóm yếu nghĩa lý của điều giác ngộ
này lại như sau: Người gánh vác sự nghiệp lớn, học Bồ
tát đạo, liễu sinh thoát tử, rộng độ chúng sinh, trước
hết cần phải giác ngộ: Nhân sinh và vũ trụ vốn vô thường,
thế gian nơi đâu cũng bất an chẳng thật. Cái ta do nhân duyên
tứ đại, ngũ ấm hòa hợp này chính thật là khổ, không,
vô ngã, sinh diệt, biến đổi, giả dối, không có chủ tể.
Vọng tâm chấp trước là cội nguồn của tội ác; sắc thân
huyễn hiện là nơi chốn của nghiệp tội. Ai có thể hiểu
được đạo lý này, thường thường tư duy quán xét, sẽ
lần lần thoát khỏi đau khổ, phiền não của sinh tử luân
hồi.
Dịch
Thơ:
Điều
thứ nhất tâm luôn giác biết
Cõi
thế gian quả thiệt vô thường
Đổi
dời sinh tử tang thương
Cõi
nước tuy lớn cũng dường mỏng manh!
Thân
tứ đại sinh thành tử hoại
Già
bệnh đeo khổ ải, giả không
Hòa
hợp năm ấm lửa vòng
Chỉ
là ảo ảnh, ngã không thể tìm.
Thế
mới biết thế gian hư huyễn
Diệt
lại sinh biến chuyển vô thường
Chúng
sinh mê đấm chấp nương
Vô
ngã chấp ngã vào đường khổ đau.
Tâm
là cội nguồn bao nghiệp ác
Thân
nghe theo tạo tác tội khiên
Xuống
lên sinh tử triền miên
Tội
kia đầy dẫy như miền rừng hoang.
Người
con Phật phải toan quán sát
Đạo
lý này bao quát đường tu
Đó
là thiền quán công phu
Dứt
mê, chuyển nghiệp, khỏi tù tử sinh.
Điều
giác ngộ thứ nhất, được thuyết minh qua biểu đồ ở trang
sau.
BÀI
GIẢNG THỨ III
ĐA
DỤC LÀ CĂN BẢN CỦA SINH TỬ LUÂN HỔI
Phiên
âm:
Đệ
nhị giác tri: Đa dục vi khổ, sinh tử bì lao, tùng tham dục
khởi; thiểu dục vô vi, thân tâm tự tại.
Dịch
nghĩa:
Điều
giác ngộ thứ hai: Tham muốn nhiều là khổ, bao sinh tử nhọc
nhằn, đều từ tham dục ra; nếu ít muốn vô vi, thân tâm
được tự tại.
Giảng
giải:
Điều
giác ngộ thứ nhất trong Kinh Bát Đại Nhân Giác nói đến
thế gian quan của Phật giáo. Từ điều giác ngộ thứ hai
đến điều giác ngộ thứ bảy là nói về nhân sinh quan của
Phật giáo.
Phật
giáo nói đến thời gian, thì chia làm ba: quá khứ, hiện tại,
vị lai; còn thuyết minh không gian, lại có thế giới này,
thế giới khác, mười phương vô lượng thế giới; nói đến
hữu tình, chia làm mười pháp giới: Phật, Bồ tát, Duyên
giác, Thanh văn, trời, người, a tu la, ngạ quỉ, súc sinh và
địa ngục. Đạo lý Phật giáo tuy có phạm trù rộng lớn,
nhưng vẫn lấy vấn đề nhân sinh làm trọng tâm.
Nói
đến nhân sinh, người ta liền liên tưởng đến những vấn
đề mà con người cần thiết như ăn mặc, dục lạc, hôn
nhân v.v…. Thực ra, những vấn đề này tuy quan trọng, nhưng
quan trọng hơn cả vẫn là vấn đề sinh tử.
Giới
văn hóa ngày nay rất đông, ai cũng nêu cao khẩu hiệu mưu
cầu hạnh phúc cho nhân loại. Nhưng khoa học phát đạt, nghệ
thuật xương minh, văn học ưu mỹ, chính trị tiến bộ cũng
không thể giải trừ hoàn toàn đau khổ cho nhân loại. Khoa
học, nghệ thuật, văn học, chính trị tuy có công năng cải
thiện cuộc sống, nhưng không thể giải thoát sinh tử cho
con người.
Chúng
sinh luân hồi trong ba cõi sáu đường, sinh rồi lại tử, tử
rồi lại sinh, gánh chịu biết bao đau khổ, đều do tham dục
dẫn khởi mà ra. Học thuật tiến bộ, văn minh vật chất
đều không giúp con người thiểu dục tri túc. Dục vọng càng
nhiều thì khổ não tự nhiên cũng nhiều.
Tô
Đông Pha nói: " Lòng dục của con người không cùng, song vật
có thể làm thỏa mãn lòng dục của ta lại có hạn." Các
ngành học thuật một mặt cải thiện cuộc sống của nhân
sinh, song mặt khác cũng lại làm tăng thêm dục vọng của
con người. Cho nên khoa học, nghệ thuật, văn học, chính trị
đối với nhân loại công và tội gần bằng nhau. Nó đem lại
hạnh phúc cho nhân loại, song đồng thời cũng đào sâu biển
khổ cho con người!
Túi
tham của con người không đáy, khó đầy. Mọi người đều
tranh nhau tìm cầu dục lạc do tài lợi, thanh sắc đem đến.
Song trong dục lạc đã sẵn mầm đau khổ, mà họ lại không
biết e sợ! Đây là do chúng sinh mê mất bản tính, lấy khổ
làm vui trong sinh tử luân hồi. Một khi đã dấn sâu vào đó,
thì khó ai biết quay đầu trở lại, suốt ngày làm nô lệ
cho dục vọng, không biết hướng đến Phật Pháp tìm cầu
giải thoát.
Trong
Kinh có ghi lại một câu chuyện như sau:
Bên
bờ sông Hằng nước Ấn, có một nhóm phụ nữ mang những
giỏ cá từ chợ về nhà. Giữa đường họ gặp một trận
mưa to, trời cũng vừa tối mà cách nhà còn đến năm sáu
dặm đường. Trong lúc bối rối chưa biết tính sao, các cô
may mắn gặp được một vị chủ cửa hàng hoa, mời lưu lại
nhà mình qua đêm. Trong phòng toàn là hoa, mùi hương sực nức
cả nhà. Suốt ngày mệt nhọc, nhưng các cô nằm xuống vẫn
trằn trọc không sao ngủ được. Mùi hương hoa làm mọi người
không quen cảm thấy khó chịu, cho đến gà gáy báo sáng mà
mọi người vẫn còn trằn trọc không yên. Trong đó có một
cô thông minh, liền đem giỏ cá đặt nơi đầu giường. Mùi
tanh lấn át mùi hương, các cô mới nhắm mắt ngủ được
một lát.
Chúng
sinh bị tham dục cầm tù, ô uế tanh hôi, nhưng mọi người
ở lâu trong đó trở lại cho là khoái lạc! Đa dục là khổ,
người có từng trải mới có thể hiểu được. Tuy nhiên
dục không nhất định hoàn toàn là xấu. Kinh nói dục có
tạp nhiễm dục và thiện pháp dục. Nội tâm bất tịnh, tham
đắm danh lợi thanh sắc bên ngoài là dục. Mang lý tưởng
giúp đời, làm công tác phúc lợi xã hội cũng là dục. Vì
vậy, chúng ta nên tăng trưởng thiện pháp dục và giảm thiểu
tạp nhiễm dục.
Đại
đa số người chỉ lo tham cầu tạp nhiễm dục, mà không biết
hướng đến thiện pháp dục. Vì thế đức Phật khi thuyết
Pháp thường quở trách lòng dục. Dục vọng mà mọi người
muốn thỏa mãn nếu không phải lòng dục về quyến thuộc
đông đầy, thì cũng là lòng dục về tiền của dồi dào;
nếu không phải lòng dục về thăng quan tiến chức, thì cũng
là lòng dục về sống lâu không già. Song những dục vọng
này có thể thực sự đem lại an vui cho con người không? Lòng
dục về quyến thuộc: cha con, mẹ con, thầy trò, họ hàng,
chồng vợ, anh em, bè bạn, tôi tớ cho dù được thỏa mãn
đầy đủ, song cũng có khi lại biến thành oan gia oán thù!
Tục ngữ bảo: "Chẳng phải oan gia chẳng gặp nhau." Anh em
giành của, cha con trở mặt, chồng vợ ly hôn, tôi tớ hại
chủ…, quyến thuộc yêu thương một phen trở mặt còn tệ
hại hơn người dưng! Cho nên người thông minh đâu cần nhất
định phải thỏa mãn lòng dục về quyến thuộc!
Ở
Đài Loan, một trong những vấn đề lớn của xã hội là vấn
đề con gái nuôi. Có rất nhiều con gái nuôi thưa kiện cha
mẹ nuôi của mình ở tòa án hay sở cảnh sát. Đây chính
là do lòng dục về quyến thuộc làm hại!
Ngoài
lòng dục về quyến thuộc ra, lòng dục về của cải cũng
rất mãnh liệt. Người ta không những mong muốn việc ăn mặc
được đầy đủ, chỗ ở được rộng rãi, thoải mái, mà
còn muốn đất đai, vàng bạc càng lúc càng nhiều! Ai cũng
hy vọng mình mỗi ngày một sở hữu càng nhiều của cải,
vật chất. Thực ra, những của cải này có khi lại gây ra
lắm điều phiền lụy! Cổ nhân từng bảo: " Người vì của
mà chết, chim vì ăn mất mạng." Cho nên, có biết bao mạng
sống, nhân cách của con người bị chôn vùi dưới đống
của cải! Thấy vàng bạc, của cải trước mắt, không còn
nghĩ gì đến tình nghĩa bạn bè , chẳng kể chi đến đạo
đức lương tâm, con người tự đánh mất chất người của
mình!
Ngoài
lòng dục về quyến thuộc, của cải ra, còn có lòng dục
về thân thể. Ai cũng muốn nhan sắc mình được trẻ đẹp,
sức khỏe mình được lâu dài. Nhưng thế gian vốn vô thường,
tuổi xanh đi qua mau, trẻ đẹp có bao lâu? Ngay điều mà cổ
nhân gọi là tam bất hủ: lập công, lập đức, lập ngôn,
để xây dựng nên công nghiệp hiển hách, cũng phải chịu
không biết bao nhiêu đắng cay, khổ não!
Xét
cho cùng, người lòng dục nhiều chừng nào thì khổ não cũng
càng lắm chừng đó. Tham tài, tiền tài không nhất định
đem đến an vui, song người mất mạng vì tiền của lại không
ít; tham danh, danh không nhất định mang lại an lạc, song người
lụy vì danh lại rất đông; tham sắc, sắc không nhất định
đem đến hạnh phúc, song có biết bao người đau khổ vì sắc
đẹp! Do đó có thể thấy, câu Kinh: Đa dục phải là khổ,
quả thật là tiếng đại hồng chung ban sớm, đánh thức người
đời tỉnh khỏi giấc mộng lợi danh!
Cổ
nhân nói: Người đạt đến chỗ vô cầu, tự nhiên phẩm
cách cao thượng. Cảnh giới vô cầu cũng chính là cảnh giới
vô dục. Người mà vô dục thì phẩm cách tự nhiên sẽ cao
thượng, và khổ não tự nhiên sẽ giảm thiểu. Hãy nhìn xem,
những kẻ trong trường danh lợi, những người đầu cơ buôn
bán, cúi luồn nịnh hót, hoa ngôn xảo ngữ, làm nô lệ cho
dục vọng lại cho là khoái lạc, thật đáng thương biết
chừng nào!
Đương
nhiên, Phật giáo không phải dạy chúng ta tuyệt đối cấm
dục, song cũng không tán thành việc phóng túng lòng dục. Phật
giáo dạy chúng ta có thái độ trung đạo. Đối với các dục
về quyến thuộc, của cải, thân thể cố nhiên không thể
phóng túng, nhưng cũng không cách nào hoàn toàn thoát ly. Cần
phải dùng trí tuệ để chuyển hóa tình cảm, thực hiện
thiện pháp dục mà xa lìa phiền não dục. Giở lại lịch
sử Ấn Độ, xã hội khi Phật còn tại thế có một nhóm
người chủ trương hưởng thụ dục lạc, phóng túng lòng
dục. Họ quan niệm: Hôm nay có rượu, hôm nay say, còn chuyện
ngày mai lo làm gì, nên tìm đủ cách hưởng thụ dục lạc,
ăn chơi xa hoa trong cuộc sống hiện tại. Lại có một nhóm
người tu khổ hạnh theo ngoại đạo, chủ trương tuyệt đối
cấm dục. Nhà khổ hạnh không những đoạn tuyệt lòng dục
về nam nữ, mà còn sống hết sức khắc khổ trong cái ăn,
cái mặc, cái ở để tu luyện. Họ chỉ ăn rong rêu, hoặc
rễ cỏ, vỏ cây, hoa quả cho đỡ đói. Họ không mặc y phục,
suốt ngày thân thể để trần. Có người ngồi trên gai góc,
hay bên bờ vực thẳm; có người nằm sát bên đống lửa.
Những khổ hạnh vô ích này, chỉ làm khổ cho mình, hoàn toàn
không thể nhờ cái khổ đó mà được giải thoát. Họ tuy
xa lìa được lòng dục về lạc hạnh, song lại bị lòng dục
về khổ hạnh trói buộc, rốt cuộc vẫn không phải là pháp
giải thoát. Cho nên đức Phật sau khi thành đạo, đã tuyên
bố chân lý trung đạo, dạy người học đạo phải xa lìa
hai cực đoan là tham đắm dục lạc (túng dục) và cố chấp
khổ hạnh (cấm dục), nên y theo Bát chánh đạo để tinh tiến
tu tập.
Chúng
ta phải hãy dùng lòng từ bi thay thế tham dục, dùng trí tuệ
hóa giải tình cảm, không để lòng mình sinh khởi tạp nhiễm
dục, tự nhiên sẽ tránh được vấn đề đa dục là khổ!
Người
ta thường nói: Người không nhiều dục vọng thì không có
thất vọng; người dục vọng càng nhiều thì đau khổ càng
nhiều. Kinh Di Giáo cũng nói: "Người biết tri túc, tuy nằm
trên đất vẫn thấy an lạc; người không tri túc, dù ở thiên
đường, cũng không vừa ý." Đệ tử Phật là Tôn giả Ca
Diếp, chuyên tu nơi gò mả mà giải thoát, an lạc; học trò
Khổng Tử là Nhan Hồi, sống trong ngõ hẻm tồi tàn vẫn thanh
thản, an vui. Đây là những hình ảnh sống động, nhằm chứng
minh ý nghĩa xác thực của đoạn Kinh trên. Qua đó ta thấy,
khổ là do nhiều lòng dục mà có; nhiều lòng dục là nguồn
gốc của khổ.
Kinh
văn nói: "Bao sinh tử nhọc nhằn, đều từ tham dục ra." Chúng
sinh luân hồi trong sáu nẻo, tử rồi lại sinh, sinh rồi lại
tử, những nhọc mệt khổ đau này, không phải đều từ tham
dục mà ra sao? Lấy cuộc sống hiện thực mà nói, chúng ta
suốt ngày tìm cầu, tham lam chiếm hữu, làm trâu ngựa cho
cuộc sống, lúc nào cũng lo được lo mất, bối rối bất
an, đều từ tham dục mà ra cả.
Tham
dục thật là đáng sợ! Kẻ táng thân mất mạng trong đời
thường là do nơi tham dục. Các vị hãy xem con thiêu thân lao
vào lửa, con cá mắc phải lưỡi câu, chẳng phải đều do
lòng tham dục xui nên hay sao? Những phạm nhân trong tù, người
thì phạm tội trộm cướp, kẻ thì phạm tội gian dâm, chẳng
phải đều bị lòng dục làm hại đó sao? Thuở xưa có hai
người họ Trương và họ Vương cùng nhau đi du lịch nơi xa.
Giữa đường họ nhặt được một khối vàng ròng. Cả hai
mừng quá bèn bàn nhau chia đôi. Trên đường đi, anh họ Trương
nói với anh họ Vương:
- Khối
vàng này chúng ta nhặt được là do Thành hoàng nơi đây có
mắt, cho chúng ta cơ hội phát tài. Chúng ta nên mua một ít
rượu thịt đến trước Thành hoàng cúng bái để tạ ơn.
- Được
lắm, anh đi mua đồ, tôi ở trước miễu Thành hoàng đợi.
Anh
họ Trương hoan hỷ đồng ý. Nhưng ngay sau đó trong lòng hai
người liền nảy sinh ý niệm tham lam, muốn một mình chiếm
hữu.
Anh
họ Trương nghĩ: Khối vàng ròng này nếu chia đôi, chỉ còn
phân nửa, thì tiêu xài không được bao lâu.
Anh
họ Vương cũng nghĩ: Khối vàng ròng này nếu chia đôi thật
là uổng, chi bằng ta tìm cách hưởng hết một mình.
Tâm
tham dục vừa khởi, điều ác đã đến nơi. Anh họ Trương
mua thuốc độc lén bỏ vào rượu và thức ăn để giết hại
anh họ Vương. Anh họ Vương thấy trong miếu thành hoàng không
có ai, cũng chuẩn bị một cây búa để đập chết anh họ
Trương. Hai người thầm đắc ý với diệu kế của mình,
cho rằng đối phương quyết không hay biết.
Anh
họ Trương mua rượu và thức ăn về, khi đang lạy cúng Thành
hoàng, không ngờ bị anh họ Vương đập một búa vào đầu,
ngã lăn ra chết.
Anh
họ Vương giết xong anh họ Trương lấy làm đắc ý, vừa
định lấy vàng đào tẩu thì cảm thấy bụng đói cồn cào.
Anh nghĩ: Mình hãy ăn uống no say đã, rồi trốn đi, đâu có
vội gì? Anh liền bày rượu thịt ra ăn uống một mình. Đang
ăn, bổng cảm thấy trời đất xoay chuyển, thuốc độc phát
tác, anh ta cũng ngã lăn ra chết!
Hai
người họ Trương họ Vương lòng tham quá lớn, vì muốn một
mình hưởng trọn khối vàng, có tâm hại người nên trở
lại tự hại lấy mình! Đây là nhân quả hiện tiền, cũng
là nói tất cả tội ác đều từ tham dục sinh ra.
Trung
Quốc có câu tục ngữ rất hay: Của hoạnh tài không làm giàu
được kẻ số nghèo. Giàu có vốn không phải do tham dục
mà được. Làm giàu phải có phước, không phước mà cầu
giàu sang để thỏa mãn lòng dục, thì kết quả vô cùng bi
thảm!
Có
phước giàu sang là nhờ bố thí để tích chứa phước đức,
mà không phải là do tham dục. Tham muốn nhiều là khổ, bao
sinh tử nhọc nhằn đều từ tham dục ra. Vậy chúng ta làm
thế nào để đối trị đây? Kinh nói: "Nếu ít muốn vô vi,
thân tâm được tự tại".
Chúng
tôi đã giảng qua ở trên, dục không phải nhất định là
hoàn toàn tội lỗi. Người vì xã hội lo việc phước lợi,
thiện pháp dục này không những không bị người ta phản
đối mà còn được rất nhiều người tán dương. Chẳng qua,
lòng dục về danh lợi tài sắc nếu kiêu xa quá đáng, thì
dư luận xã hội cũng không đồng tình. Đối với lòng dục
về tiếng khen, tài lợi, nam nữ, ẩm thực v.v…, Kinh điển
không phải bắt các vị hoàn toàn đoạn tuyệt. Thực ra, trong
thực tế cũng không cách gì đoạn tuyệt được tất cả.
Trong Kinh chỉ dạy chúng ta giảm thiểu lòng dục, sống đời
thanh thản, không vướng bận, não phiền (vô vi). Người lòng
dục nhiều thì phiền não tất nhiên cũng nhiều; ngươi lòng
dục ít thì phiền não tự nhiên cũng ít.
Người
ít dục vọng thì tâm không dua nịnh, không mong cầu vô lý.
Tâm không tham dục sẽ trở nên cương trực, thẳng thắn.
Người ít muốn vô vi sẽ không bị các căn mắt tai mũi lưỡi
thân ý của mình và sáu trần sắc thanh hương vị xúc pháp
bên ngoài trói buộc. Thân tâm của vị đó tự nhiên được
tự tại, giải thoát.
Nhan
sắc diễm lệ, giọng ca ngọt ngào, điệu múa uyển chuyển,
vị ngon ăn uống, tiếng tăm lừng lẫy… đều có sức mạnh
mê hoặc lòng người rất lớn. Nó khiến người ta phóng đãng
dục tình, cùn nhụt ý chí, đắm đuối tìm cầu. Danh lợi
tài sắc rõ ràng là biển dục khiến người ta phải trầm
luân nơi nguy hiểm. Con người như một chiếc thuyền con đang
lặn ngụp, trôi giạt giữa biển khổ sóng to, gió cả!
Người
đời lặn ngụp trong biển dục, thì thân tâm làm sao có thể
tự tại an lạc!
Cách
tốt nhất là phải xa lìa biển dục phiền não, không mạo
hiểm trong biển dục, luôn đề cao cảnh giác không bị nó
dẫn dụ, làm mê hoặc. Người Phật tử nên dùng sức thiền
định, trí tuệ để phụng hành giới học mà đức Phật
đã dạy, tuy ăn uống song không vì tham lam vị ngon mà sát
sinh; tuy giữ của, song không phải vì tham lam mà dùng thủ
đoạn để bòn rút, cướp đoạt; tuy có vợ có chồng, mà
không tà dâm gây ra việc tình ái lăng nhăng; tuy nói năng mà
không vọng ngữ, thêu dệt…. Nếu thế gian có thái độ ít
muốn vô vi như vậy, thì thân tâm chắc chắn sẽ được tự
tại, thanh thản và nhân loại cũng không có tranh chấp, hơn
thua!
Dịch
thơ:
Điều
thứ hai phải nên giác ngộ
Ham
muốn nhiều, lụy khổ càng sâu
Nhọc
nhằn sinh tử bấy lâu
Đều
do tham dục dẫn đầu gây nên.
Tâm
ít muốn, giữ bền đạo nghiệp
Hạnh
vô vi, không tiếp nghiệp duyên
Tự
nhiên sẽ hết não phiền
An
vui tự tại giữa miền nhân gian.
BÀI
GIẢNG THỨ IV
TRI
TÚC LÀ CĂN BẢN ĐỂ GÌN GIỮ ĐẠO NGHIỆP
Phiên
âm:
Đệ
tam giác tri: Tâm vô yểm túc, duy đắc đa cầu, tăng trưởng
tội ác. Bồ tát bất nhĩ, thường niệm tri túc, an bần thủ
đạo, duy tuệ thị nghiệp.
Dịch
nghĩa:
Điều
giác ngộ thứ ba: Tâm nếu không biết đủ, chỉ lo việc tham
cầu, sẽ tăng thêm tội ác. Bồ tát không như vậy, thường
nhớ đến tri túc, vui cảnh nghèo giữ đạo, lấy tuệ làm
sự nghiệp.
Giảng
giải:
Điều
giác ngộ thứ hai: Đa dục là căn bản của sinh tử. Còn điều
giác ngộ thứ ba: Tri túc là căn bản để gìn giữ đạo nghiệp.
Muốn lìa sinh tử, đầu tiên phải trừ dục; muốn tu chính
đạo, trước hết phải tri túc. Người không tri túc, cho dù
tu hành bao lâu năm, vẫn không có ngày thành tựu.
Tâm
của chúng sinh không bao giờ thấy thỏa mãn đối với những
gì mình đã có được. Tiền bạc có một trăm lại nghĩ đến
một ngàn, được một ngàn lại đòi lên một vạn! Quan vị
là quận trưởng mong làm tỉnh trưởng, lên tỉnh trưởng
lại muốn làm bộ trưởng!
Có
một bài ca nói thật đúng cái tâm không biết đủ của con
người:
Suốt
ngày bận rộn cũng chỉ vì
Lo
ăn, lo mặc chuyện áo y
Ăn
mặc đủ rồi, lại suy nghĩ:
Phòng
trung còn thiếu vợ đương thì!
Vợ
đẹp, hầu non đều đủ cả
Ra
vào xe ngựa lấy đâu đi?
Ngựa
đã thành bầy, xe đã sẵn
Lại
lo ruộng ít, khó thu chi!
Mua
được ruộng vườn trăm vạn mẫu
Sợ
không quan chức bị người khi!
Tam
phẩm, tứ phẩm còn chê nhỏ
Ngũ
phẩm, thất phẩm có ra gì.
Nhất
phẩm vừa lên quan tể tướng
Lại
muốn làm vua, chắc có khi?
Thỏa
lòng lên được ngôi thiên tử
Mơ
ước thành tiên sống trường kỳ!
Tham
vọng leo thang không dừng nghỉ
Vô
thường chợt đến, ôm hận đi!
Đây
là nói về một người sống trong dục vọng, không bao giờ
biết đủ về giàu sang, công danh, để kiếp người đáng
qúi trôi qua trong phiền não khổ đau.
Tai
họa trên thế gian, tội ác trong cuộc sống đều do tâm không
biết đủ này mà ra. Mọi người ai cũng biết:
Một
mai vô thường đến
Mới
hay mộng huyễn thân
Muôn
việc đem chẳng được
Chỉ
nghiệp theo thức thần!
Nhưng
họ sống một ngày là lại tham cầu một ngày!
Theo
truyền thuyết, ông Lữ Động Tân vốn là vị tu tiên về
sau qui y Phật giáo. Một hôm, ông chợt khởi lên ý tưởng
muốn thử căn cơ chúng sinh, xem có thể hóa độ được không.
Ông liền hóa làm một ông lão xuống phàm trần và gặp một
đứa trẻ. Ông bước đến hỏi:
- Này
chú bé, chú muốn gì? Chỉ cần chú nói cho tôi biết, tôi
sẽ làm vừa lòng chú!
Chú
bé ấy suy nghĩ, cái quí nhất trong đời không gì hơn vàng,
có vàng chuyện gì làm cũng xong, nên đáp:
- Tôi
muốn có một khối vàng!
Lữ
Động Tân liền chỉ ngón tay vào tảng đá bên cạnh, khối
đá bổng nhiên biến thành khối vàng! Ông nói:
- Này
chú nhỏ, hãy mang khối vàng này đi, xem như là lễ ra mắt
của chúng ta!
Chú
bé ấy ngạc nhiên đến sững người trước việc chỉ đá
hoá vàng của Ngài, nhưng sau khi suy nghĩ một lát, lại nói:
- Tôi
không muốn khối vàng này!
- Vì
sao không muốn?
- Tôi
chỉ muốn ngón tay của Ngài!
- Ngươi
muốn ngón tay ta để làm gì?
- Vừa
rồi Ngài nói sẽ làm vừa lòng tôi. Khối vàng này có lúc
sẽ xài hết, nếu Ngài cho tôi ngón tay, lúc cần tiền chỉ
việc dùng nó để chỉ đá hóa vàng, sẽ mặc sức tiêu xài!
Chú
bé này tâm không biết đủ, không nhận ra tấm lòng của người
tốt khiến cho Lữ Động Tân vô cùng thất vọng. Ngài chỉ
còn biết than chúng sinh khó độ mà thôi!
Chúng
sinh tâm không biết đủ, chỉ lo tham cầu, tăng thêm tội ác
là một điều không thể phủ nhận. Tham dục càng nhiều,
tội lỗi càng lắm. Không ai biết nghĩ đến:
Ngàn
gian nhà rộng thênh thang
Đêm
nằm ngủ chỉ vài gang là vừa
Tiền
muôn bạc vạn thải thừa
Ngày
ăn ba bữa, cất chừa làm chi?
Đàng
sau gia tài đồ sộ kia, không biết che dấu biết bao tội ác!
Bên trong địa vị cao sang đó, ai hay ẩn chứa thật lắm âm
mưu! Những tham cầu phi pháp, làm tăng thêm tội lỗi, tóm
lại có mấy điểm như sau:
Lấy
trộm tài vật của người:
Ví
dụ như ăn trộm, ăn cướp, làm thổ phỉ chuyên cướp đoạt
tài vật của người để sống.
Chối
bỏ trách nhiệm:
Như
mượn đồ vật của ai, đến kỳ không trả, lại chối nói
không có, hay đổ thừa, hại người lợi mình
Nuốt
lời gửi gắm:
Ví
dụ có người bận việc đi xa, gửi đồ cho mình trông coi
hộ. Đến khi họ trở về lấy lại, mình phủ nhận, rồi
chiếm làm của riêng.
Dối
lấy của chung:
Ví
dụ hai người cùng hùn vốn làm ăn, khi có lợi nhuận đáng
lẽ phải chia đều, mà mình vì muốn hưởng nhiều hơn, nên
số lời nhuận đúng ra là mười triệu mà chỉ nói có năm
triệu.
Thừa
cơ chiếm dụng:
Ví
dụ biển thủ của công, giảm bớt giờ làm, ăn xén vật
liệu, mượn của công làm việc tư v.v….
Cậy
thế lực lấy của người:
Ví
dụ như tham ô, dùng thủ đoạn qua mặt pháp luật, mượn
thế lực chèn ép, cưỡng đoạt của người ta, khiến cho
họ không dám kêu ca.
Kinh
doanh phi pháp:
Như
mở quán rượu, vũ trường hay giết heo mổ trâu, hoặc buôn
bán các dụng cụ sát sinh.
Lòng
người không biết nhàm đủ, nên việc tham cầu phi pháp là
điều không thể tránh khỏi. Thực ra, y phục vốn là để
che thân và ngăn gió lạnh, nhưng người có tiền lại đòi
hỏi quần là áo lụa, nhung gấm hoa hòe; cơm ăn vốn cho khỏi
đói, nhưng người có tiền lại muốn mâm cao cỗ đầy, sơn
hào hải vị; chỗ ở vốn để tránh gió che mưa, nhưng người
có tiền lại muốn nhà cao cửa rộng, trang hoàng lộng lẫy;
về mặt giải trí thì núi sông hoa cảnh trong thiên nhiên người
ta không cho là đủ, lại còn rượu chè, khiêu vũ, bài bạc
đủ thứ . Vật chất hữu hạn mà dục vọng con người lại
vô cùng thì làm sao thỏa mãn cho được? Do đó con người
cứ chạy theo lòng dục, luôn mãi tìm cầu, bất kể thủ đoạn,
hại người lợi mình, gây ra vô số tội ác.
Phàm
phu trong vòng điên đảo do tâm không biết đủ nên tham cầu
nhiều điều phi pháp. Nhưng bậc Bồ tát tu hành lại thường
nhớ đến tri túc, vui cảnh nghèo giữ đạo, lấy tuệ làm
sự nghiệp. Pháp sư Đạo An đời Tấn là vị công thần bậc
nhất trong lịch sử Trung Quốc. Một hôm có cư sĩ là Khích
Siêu sai người dâng Ngài một ngàn hộc gạo trắng để cúng
vào ngôi Tam Bảo. Trong chùa không có kho lương thực lớn nào
có thể chứa đủ số lượng nhiều như thế. Ngài Đạo An
phải dành ra ba ngôi nhà lầu mới để hết một ngàn hộc
gạo. Nhân đó Ngài viết thư trả lời cư sĩ Khích Siêu, trong
đó có đoạn viết: "Nhờ ông cúng cho chúng tôi một ngàn
hộc gạo, nhưng cũng vì thế mà tăng thêm phiền hà cho việc
chứa cất!"
Bất
cứ ai cũng hiềm của cải ít, mà Đạo An lại hiềm của
cải nhiều! Đây là tâm lượng của bậc Thánh giả, là thái
độ của Bồ tát đối với thế gian.
Bậc
tu đạo giác ngộ đối với vật dục thế gian cho rằng: Tham
cầu nhiều, kết quả sẽ bần cùng; hoan hỷ xả bỏ, sẽ
giàu có hạnh phúc. Của cải nhiều thì tâm làm tôi mọi cho
hình hài, cuộc sống không sao an tĩnh được!
Một
người không biết tri túc, tâm đam mê ngoại cảnh, hễ tham
tài lợi thì sinh mạng nằm trong tay của tài lợi; hễ tham
sắc đẹp thì sinh mạng nằm trong tay của sắc đẹp! Người
tham lam cần phải biết, ngay thân mình còn không giữ được,
huống chi của cải là những thứ bên ngoài? Như các tay cự
phú bao đời mà nay có còn đâu? Nếu biết tri túc thì sinh
mệnh mới an định, cuộc sống mới thực sự an lạc.
Thuở
xưa có một người cưỡi la ra ngoài dạo chơi, gặp một người
cưỡi ngựa đi phía trước, trong lòng rất ưa thích, mong ước
có được con ngựa cao to như thế để cưỡi. Nhưng liền
đó anh ta quay đầu lại nhìn thấy một người đang cực nhọc
đẩy xe mồ hôi như tắm. Anh suy nghĩ chu đáo, tâm tham muốn
liền lắng dịu, rồi cảm khái thốt lên bài thơ:
Người
khác cưỡi ngựa, mình cưỡi la
Tủi
thân sao lại kém người ta?
Quay
đầu chợt gặp ông xe đẩy
Mới
thấy vẫn còn hơn người xa!
Điều
này cho thấy, nếu chúng ta nhìn người giàu sang hơn mình,
sẽ bất bình, sinh tâm không biết đủ. Nhưng nếu ta so với
người nghèo hèn hơn, sẽ tự nhiên không còn tham cầu, không
tạo nghiệp xấu. Câu biết đủ thường an lạc thật đáng
cho người học đạo chúng ta ghi lòng tạc dạ!
Người
giác ngộ luôn luôn là người tri túc nên không tham cầu phi
pháp. Bồ tát giác ngộ không phải là không cần tiền, mà
là khéo biết dùng tiền. Tiền bạc tích trữ thì không phải
thuộc về mình, tiền bạc dùng vào việc có ích mới thuộc
về mình. Cho nên cách người giác ngộ xử lý tiền bạc như
sau:
Mười
phần tiền của kiếm được, hai phần dùng vào việc phước
thiện, bố thí cúng dường; hai phần chi dụng trong cuộc sống
hàng ngày; hai phần để dành phòng khi già cả, yếu đau, và
lúc cần gấp. Còn lại bốn phần dùng vào việc kinh doanh
để phát triển gia nghiệp.
Phật
Pháp nói tiền bạc là sở hữu chung của năm nhà:
1.
Nhà vua quan: Bọn tham quan ô lại có thể dựa vào quyền thế
để tước đoạt của cải chúng ta.
2.
Nhà lửa nước: Tai nạn lũ lụt, hỏa hoạn có thể cuốn
trôi, đốt sạch của cải chúng ta trong một buổi.
3.
Nhà trộm cướp: Trộm cướp lén lấy trộm hay ngang nhiên
cướp đoạt của cải chúng ta.
4.
Nhà chiến tranh: Gặp lúc chiến tranh khói lửa, nhà cửa ly
tán, của cải càng nhiều càng lo sợ, nguy hiểm.
5.
Nhà con cái: Gặp con cái bất hiếu, phá tán gia tài, khiến
tan nhà nát cửa.
Tiền
của chính thuộc về năm nhà này. Người tri túc vì biết:
Người ta ăn thì còn, còn mình ăn thì hết, nên không chỉ
cất chứa, hưởng thụ riêng cho mình, mà còn biết bố thí
cúng dường để vun trồng cội phước và làm những việc
lợi ích. Của cải đó mới là chân thật của mình.
Thời
Chiến Quốc vua Tề Tuyên Vương muốn bái Nhan Xúc làm thầy,
nên nói với ông rằng:
- Chỉ
cần Ngài nhận tôi làm đệ tử, sống chung với tôi, thì
mỗi ngày sẽ ăn cao lương mỹ vị, mặc toàn lụa là gấm
vóc, ra ngoài có kiệu xe đưa rước, lại thêm có mỹ nhân
hầu hạ.
Nhan
Xúc thản nhiên đáp:
- Cảm
ơn lòng tốt của Ngài, nhưng tôi không mong làm thầy của
vua. Tôi chỉ mong được thảnh thơi ăn cơm, thì ngon đồng
như ăn thịt; ra đường từ từ dạo bước, nào khác với
việc đi xe; an phận giữ mình, không làm điều sai quấy, thì
đó là tôn quí; đời sống thanh tịnh, phàm làm việc gì đều
không trái với đạo lý, thì đó là an lạc, hạnh phúc.
Tri
túc như Nhan Xúc mới không bị thế gian làm nhục. Người
tu hạnh Bồ tát có thể sống yên vui trong cảnh nghèo vẫn
giữ đạo thanh tịnh, lấy việc cầu trí tuệ giải thoát
làm sự nghiệp cả đời mình. Đại sư Huệ Năng giã gạo
chuyên cần. Thiền sư Bách trượng một ngày không làm, một
ngày không ăn. Luật sư Hoằng Nhất mấy mươi năm mặc một
chiếc áo bông. Hòa thượng Hư Vân lúc ở chùa Chân Như chỉ
uống nước thay cơm mà không khuất phục trước thế lực
ác. Học được tinh thần vui nghèo giữ đạo của các vị
đó mới có thể thực sự thấu hiểu được cuộc sống,
tận dụng được cuộc sống!
Bồ
tát tu học Phật Pháp không nhất thiết phải nghèo khổ mới
gọi là thanh cao. Trong Phật giáo có rất nhiều vị trưởng
giả giàu có. Nếu bên trong tham dục không trừ, bề ngoài
làm ra vẻ khổ hạnh, đây là điều cần phải tránh!
Trong
Phật giáo, cũng không phải dạy chúng ta không cần tiền,
mà dạy chúng ta nên có tiền của chính đáng, dùng vào chỗ
chính đáng. Nếu tiền của có được và sử dụng một cách
chính đáng, thì có càng nhiều lại càng tốt! Nếu là tiền
của không chính đáng, dầu một đồng xu cũng không lấy.
Thuở
Phật còn tại thế, một hôm Ngài và A Nan cùng đi trên đường,
gặp một khối vàng không biết là của ai đánh rơi. Đức
Phật thấy rồi quay sang A Nan bảo:
- Này
A Nan, ông có thấy không? Rắn độc đó!
A Nan
đáp:
- Bạch
Phật con có thấy. Quả là rắn độc!
Đức
Phật và A Nan đi khỏi, hai cha con nông dân đang làm ruộng
nghe nói rắn độc, bèn hiếu kỳ bước lại xem thử, song
không ngờ đó lại là một khối vàng! Hai người hết sức
vui mừng, cười thầm thầy trò đức Phật thấy của qúi
mà không biết. Họ bèn mang khối vàng về nhà, cho rằng nay
mai sẽ phát tài. Không bao lâu, nhà vua biết vàng bạc trong
kho có người trộm mất nên ra lệnh điều tra. Đội điều
tra tìm thấy trong nhà hai cha con có khối vàng ròng, thật không
cách gì chối khỏi tội trộm, khi chứng cứ đã rành rành.
Do đó họ bị bắt giam vào ngục, khép vào tử tội. Hai cha
con nông dân thấy mình thật oan uổng, mới nhớ lại lời
đức Phật nói với A Nan quả không sai. Người cha bèn đóng
vai đức Phật, nói với con rằng:
Này
A Nan, ông có thấy không? Rắn độc đó!
Người
con đáp:
Bạch
đức Phật, con có thấy. Quả là rắn độc!
Quan
coi ngục nghe hai cha con hỏi đáp rất lấy làm kỳ lạ, nên
cho thẩm vấn lại, điều tra kỹ lưỡng mới biết họ bị
oan.
Hai
cha con người đó vì cất chứa vàng bạc mà làm hại mình.
Họ lại nhờ nhớ được lời Phật và A Nan đối đáp về
đạo lý vui nghèo giữ đạo mới được cứu thoát. Qua đó
ta thấy, của cải không phải phần mình không nên lấy, vui
nghèo giữ đạo mới là cách sống an ổn chân chính.
Tiền
bạc là rắn độc, nhưng sống không thể thiếu tiền bạc.
Cho nên tiền bạc cũng là tư lương của người học đạo.
Đây chỉ là vấn đề sử dụng tiền bạc đúng hay không
đúng mà thôi! Dùng tiền bạc để lo sự nghiệp xây dựng
hạnh phúc cho mọi người; dùng tiền bạc để hộ trì việc
tu học, bồi dưỡng giới thân tuệ mạng của tăng ni, thì
tiền bạc không phải là rắn độc mà là tịnh tài!
Bậc
Thánh giả vui nghèo giữ đạo, lấy trí tuệ làm sự nghiệp,
thì không nên cất chứa rắn độc, song nên biết dùng tịnh
tài để lo việc Phật sự.
Dịch
Thơ:
Điều
thứ ba biết tâm giong ruổi
Luôn
tìm cầu, đeo đuổi chẳng nhàm
Không
sao thỏa được lòng tham
Tội
kia theo đó, càng làm càng sâu
Bậc
Bồ tát vô cầu, biết đủ
Vui
phận nghèo, qui củ tu hành
Trau
dồi tuệ nghiệp lợi sanh
Vung
gươm trí tuệ, cắt mành vô minh.
BÀI
GIẢNG THỨ NĂM
TINH
TẤN LÀ CĂN BẢN ĐỂ HÀNG PHỤC MA CHƯỚNG
Phiên
âm:
Đệ
tứ giác tri: Giải đãi trụy lạc, thường hành tinh tấn,
phá phiền não ác, tồi phục tứ ma, xuất ấm giới ngục.
Dịch
nghĩa:
Điều
giác ngộ thứ tư: Giải đãi phải sa đọa, nên thường hành
tinh tấn, để phá phiền não ác, chiết phục cả bốn ma,
ra khỏi ngục ấm giới.
Giảng
giải:
Trong
đời này, không luận làm việc gì cũng cần phải có tinh
thần đại hùng, đại lực, đại vô úy mới có thể thành
công. Chúng ta dù xây dựng sự nghiệp trong xã hội, hay tu
học đạo nghiệp trong Phật Pháp, đều gặp không ít chướng
ngại hay ma nạn. Nếu ta do dự không tiến tới, hoặc có chút
ít giải đãi, sẽ không thành tựu được một việc gì cả!
Nên trong đoạn Kinh này, chúng tôi sẽ giảng đến đề tài:
Tinh tấn là căn bản để hàng chục ma chướng. Giải đãi
là chỉ sự không hết lòng, hết sức trong viêc đoạn ác
tu thiện. Giải là căn thân mệt mõi; đãi là tâm thức phóng
túng. Giải đãi là căn bệnh chung của chúng sinh, mà thuốc
trị nó chính là tinh tấn.
Tinh
tấn có nghĩa: Tâm thiện của chúng ta chưa phát sinh, thì nỗ
lực khiến cho sớm phát sinh; tâm thiện đã sinh, thì nỗ lực
làm cho được tăng trưởng; niệm ác chưa sinh thì cố gắng
giữ đừng cho sinh: niệm ác đã sinh, thì cố gắng sớm dứt
trừ. Thế gian này là cảnh giới ma. Tinh tấn có thể thành
Phật, giải đãi sẽ đọa vào ma giới.
Xem
lại các bậc Thánh hiền thành tựu đạo nghiệp thuở trước,
không ai là chẳng trải qua một phen dùng tử công phu. Chúng
tôi sẽ nói về Ngài A Na Luật, đương cơ của Kinh này.
Một
hôm trong Pháp hội của Phật, Tôn giả A Na Luật bổng bị
hôn trầm, giải đãi che lấp tâm tánh nên ngủ gục. Đức
Phật thấy đệ tử giải đãi không tinh tấn như vậy liền
gọi Ngài tỉnh dậy, quở rằng:
Than
ôi ông ham ngủ
Như
sò ốc trong vỏ
Ngủ
một giấc ngàn năm
Không
nghe danh hiệu Phật!
A Na
Luật nghe xong, trong lòng rất hổ thẹn bèn phát nguyện từ
nay về sau không ngủ nữa, mỗi ngày nếu không kinh hành thì
tụng Kinh. Một hai ngày không ngủ cũng không sao. Nhưng A Na
Luật thức liên tiếp nhiều ngày đã ảnh hưởng xấu đến
sức khỏe và nhất là con mắt, song Ngài vẫn quyết chí tinh
tấn tu tập như vậy. Một thời gian sau, Ngài trở nên mù
lòa.
Đức
Phật thấy Ngài vì quá tinh tấn mà phải mù lòa nên rất
thương, mới dạy Ngài tu tập môn Kim Cương Chiếu Minh Tam
Muội. Chẳng bao lâu Ngài chứng được thiên nhãn thông.
A Na
Luật chỉ nghe Phật dạy một câu mà tinh tấn như thế. Người
ta nếu không bị tình dục làm mê hoặc, sẽ không bị tà
ma làm nhiễu loạn. Người học Phật nghe học Kinh Pháp, liễu
tri thật tướng vạn hữu, đây là được đại trí của Bồ
tát Văn Thù. Nhưng lại phải tinh tấn thực hành trí bát nhã
đó, mới có thể khế hợp với đại hạnh của Bồ tát Phổ
Hiền.
Tập
khí của chúng sinh là ưa nhàn nhã, thích hưởng thụ nên khó
phát tâm dũng mãnh, tinh tấn tu đạo. Đức Phật trong nhân
tu quá khứ, từng xả thân cho cọp, cắt thịt cho chim ưng.
Đây là tâm tinh tấn, hy sinh, làm được việc khó làm, nhẫn
được việc khó nhẫn. Những kẻ phê bình Phật giáo là tiêu
cực, làm sao có thể tưởng tượng hay thể hội được điều
này?
Bồ
tát Quán Thế Âm với:
Ba
mươi hai tướng, hiện Ta bà
Độ
khắp muôn loài, kiếp hằng sa.
Ngàn
chỗ nguyện cầu, ngàn chỗ ứng
Thuyền
từ biển khổ, độ người ra.
Nếu
người học Phật không có tinh thần tinh tấn, làm sao làm
được như vậy?
Bồ
tát Địa Tạng với lời nguyện:
Địa
ngục chưa hết
Thề
chưa thành Phật
Chúng
sinh độ tận
Mới
chứng Bồ Đề
Đây
không phải là tinh thần tinh tấn của bậc đại nhân, đại
trí hay sao?
Thời
nay người ta rủ mình cờ bạc ăn tiền, nếu mình không theo,
họ sẽ cho mình là tiêu cực! Mời mình chè chén, khiêu vũ,
mình không nhận lời, họ cho mình là thụ động! Bậc Thánh
giả tu học Bồ tát đạo, tinh tấn liễu thoát sinh tử, rộng
độ chúng sinh. Tinh thần tích cực này là điều mà người
bình thường khó mà hiểu được!
Đại
sư Huyền Tráng đi Thiên Trúc thỉnh Kinh, trải qua tám trăm
dặm sa mạc, giữa đường thiếu nước cơ hồ bỏ mình nơi
hoang mạc, song Ngài vẫn nguyện: Thà đi về hướng Tây một
bước mà chết, quyết không quay về hướng Đông một bước
mà sống! Nếu không phải là người có nhiệt tình tôn giáo,
tâm tinh tấn vì đạo, thì làm sao có thể làm được việc
như vậy?
Đại
sư Tuệ Khả đến tham bái Tổ sư Đạt Ma, đứng ngoài tuyết
lạnh, chặt tay cầu Pháp mà vẫn không thoái thất tâm tốt
ban đầu. Thử hỏi, nếu không có tâm tinh tấn cầu Pháp,
thì làm sao có thể làm được như vậy? Trong Phật Pháp, lục
độ lấy tinh tấn làm chủ yếu. Không luận bố thí, trì
giới, nhẫn nhục, thiền định, trí tue? nếu không có tinh
tấn, thì không cách nào thành tựu Ba la mật.
Trong
Kinh nói tinh tấn có mười điều lợi ích:
1.
Không bị lực lượng bên ngoài chiết phục.
2.
Được chư Phật nhiếp thọ.
3.
Chúng trời người kính ngưỡng.
4.
Nghe được Chánh Pháp không quên.
5.
Tìm biết được những điều chưa biết.
6.
Tăng trưởng vô ngại biện tài.
7.
Được an trú trong thiền định.
8.
Ít bệnh, ít não, ít hoạn.
9.
Ăn uống dễ dàng tiêu hóa.
10.
Như hoa ưu đàm nở.
Tinh
tấn như cọ xát cây lấy lửa, không thể dừng nghỉ giữa
chừng. Tâm Bồ đề đã phát nếu không có sức tinh tấn thường
hằng thì khó mà duy trì được. Không luận làm điều gì,
nếu không có hằng tâm, tinh tấn, nghị lực, giữa chừng
bỏ dở, thì chắc chắn không thu được ích lợi, thành tựu
được kết quả. Người ta gọi là: nhiệt tình lửa rơm!
Người
không có tâm tinh tấn thường hằng, làm việc với tâm thái
nhiệt tình lửa rơm như vậy, thì làm sao có thể thành công?
Muốn tâm tinh tấn được lâu bền, phải có tinh thần như
Khổng Minh: Dốc lòng hết sức, đến chết mới thôi, và thái
độ: Chỉ lo cày bừa, không nghĩ thu hoạch. Nếu người có
tâm mong mau chóng thành tựu, hay cầu cái lợi trước mắt,
thì khi vừa gặp thất bại đã bỏ cuộc, mới bị thử thách
liền nản lòng. Người làm việc có đầu không có đuôi,
có thủy không có chung như vậy, là không có tinh thần tinh
tấn, không ngại gian lao, không nài khó nhọc. Trong Kinh có
kể một đoạn ngụ ngôn:
Có
một con chim anh vũ, thấy một khu núi rừng bị lửa thiêu
cháy, thế lửa rất mạnh.
Nó
cảm thấy hết sức đau lòng, thương cho các loài sinh vật
trong đó, liền bay đến bờ sông dùng miệng ngậm nước để
cứu lửa. Việc làm này giống như đem nước một chén mà
cứu lửa cả xe, đương nhiên không giải quyết được vấn
đề. Nhưng chim vẫn quyết tâm không từ bỏ việc cứu lửa.
Lúc
đó vị thần lửa trên trời biết được, liền hiện xuống
nói với chim:
- Này
chim anh vũ, thế lửa lớn dường ấy mà ngươi chỉ dùng vài
giọt nước ngậm trong miệng để dập tắt, thì làm sao mà
có kết quả? Đây không phải là việc tốn công vô ích hay
sao?
Chim
Anh Vũ đáp rằng:
- Cứu
lửa đó là điều mọi người nên làm hết trách nhiệm. Tuy
sức tôi rất nhỏ, nhưng không thể không tận tâm, tận lực.
Lời
nói của chim anh vũ rất bình thường, nhưng tráng chí của
nó thật vĩ đại. Tinh thần dũng mãnh, thấy khó khăn không
lui bước này đã khiến thần lửa cảm động sâu xa, nên
đã dập tắt đám cháy đó giùm chim anh vũ.
Trong
Kinh Tứ Thập Nhị Chương có tất cả sáu chương nói về
người học đạo nên tinh tấn như thế nào. Tinh tấn được
chia làm ba loại:
Phi
giáp tinh tấn.
Nhiếp
thiện pháp tinh tấn.
Lợi
lạc hữu tình tinh tấn.
Sao
gọi là phi giáp ( mặc áo giáp ) tinh tấn? Kinh Tứ Thập Nhị
Chương nói: Người học đạo như kẻ chiến đấu với vạn
người, mặc áo giáp ra trận, nếu ý khiếp nhược sẽ giữa
đường thoái lui, hoặc chiến đấu đến chết. Nếu tinh tấn
dũng mãnh, không sợ gươm đao, thì dấn thân vào chỗ chết
để tìm ra đường sống, phá diệt các ma, mà được đạo
quả. Cho nên, mặc áo giáp tinh tấn là nói người tu phải
có tinh thần chiến đấu với các ác pháp.
Thế
nào là nhiếp thiện pháp tinh tấn?
Mặc
áo giáp tinh tấn là trừ ác, nhưng tinh tấn còn phải hoàn
thành thiện pháp, đây gọi là nhiếp thiện pháp tinh tấn.
Không luận người xuất gia hay tại gia, khi tu tập thiện pháp
không nên quá gấp, cũng không nên quá chậm, cốt yếu vừa
chừng là tốt. Gấp quá thì bị sức phản động mà lui sụt.
Chậm quá thì do giải đãi mà thoái đọa. Như gảy đàn, dây
đàn chùng thì âm thanh không vang đúng mức, dây căng quá sẽ
dễ đứt. Vì vậy, việc tu thiện pháp không nên quá chậm,
cũng không nên quá gấp. Gấp hay chậm đều là sai lầm, đệ
nhất nghĩa trong Phật Pháp chính là trung đạo!
Thế
nào là lợi lạc hữu tình tinh tấn?
Người
học Phật phải phát tâm đại từ bi, độ khắp chúng sinh.
Nhưng chúng sinh trong tam giới vô lượng vô số, nếu không
tinh tấn làm sao thực hiện được chí nguyện độ sinh? Ta
phải có tâm từ bi vô hạn, có chí độ sinh vô cùng, thì
mới có thể tinh tấn không thoái lui.
Chúng
ta trên bước đường tu học, thường hay mắc phải chứng
bệnh: Căn thân mệt mỏi, tâm thức phóng túng! Đây là do
chưa nhận thức rõ thời gian và sinh mệnh trân quí biết chừng
nào. Chúng ta sống trong dòng thời gian, nghĩ rằng: Ngày nay
trôi qua vẫn còn ngày mai; năm nay không làm, còn có năm sau;
tuổi trẻ không tu, hãy còn lúc gia, vì vậy mới luống qua
thời gian, dần dà hết kiếp! Không ngờ, kết quả do thói
quen giải đãi, ỷ lại này, khiến ta phải chịu đọa lạc,
khổ đau!
Chúng
ta nếu biết sinh mệnh là trân quí, thời gian qua rồi không
trở lại, thì phải luôn khắc ghi trong tâm hai chữ vô thường,
không một giây phút chần chờ, không một ý niệm xao lãng,
trực tâm hướng về chính đạo.
Thuở
xưa, đức Phật hỏi các đệ tử:
- Mạng
người trong bao lâu?
Một
đệ tử đáp:
- Trong
vài ngày!
Đức
Phật lắc đầu bảo:
- Ông
chưa hiểu đạo.
Ngài
lại hỏi một vị khác:
- Mạng
người trong bao lâu?
- Mạng
người trong khoảng bữa ăn.
Phật
cũng lắc đầu bảo:
- Ông
chưa hiểu đạo!
Rồi
Ngài lại hỏi một vị khác:
- Mạng
người trong bao lâu?
Vị
này đáp:
- Mạng
người trong hơi thở!
Đức
Phật vô cùng hoan hỉ, khen rằng:
- Lành
thay! Ông hiểu được đạo!
Người
biết giác ngộ mạng sống trong khoảng hơi thở, thì đôí
với việc tu đạo, hành thiện sao dám giải đãi? Đối với
việc tu đạo hành thiện, nếu không nỗ lực tinh tấn, làm
sao có thể thành tựu? Tinh là chuyên ròng không tạp; tấn
là tiến mãi không lui. Mục đích của tinh tấn là phá phiền
não ác, hàng phục bốn ma, ra ngục ấm giới.
Trời
đất lâu dài có lúc hoại, phiền não miên man không tận cùng!
Phiền não vô minh vốn câu sinh với ta, nằm sẵn trong tâm,
khiến chúng sinh không thoát khỏi luân hồi, sinh tử. Học
Phật, việc lớn nhất là phá phiền não ác. Phiền não là
chỉ phiền tâm va não thân. Phiền não còn nguy hiểm hơn oán
tặc, cường đạo, thổ phỉ. Cổ nhân bảo: Bắt giặc trong
núi dễ, dẹp giặc trong lòng kho. Cuộc sống bất an, đau khổ,
đều do phiền não gây ra cả!
Phật
Pháp có tám muôn bốn ngàn Pháp môn là để đối trị tám
muôn bốn ngàn phiền não. Lấy bất tịnh quán để đối trị
tham dục, lấy từ bi đối trị sân hận, lấy vô ngã đối
trị kiêu mạn, lấy chánh tín đối trị nghi hoặc, lấy chánh
kiến đối trị tà kiến. Phiền não tóm lại có sáu loại
căn bản: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Ngoài sáu loại
căn bản phiền não này ra, còn có hai mươi loại tùy phiền
não.
Căn
bản phiền não như rễ cây, nó là gốc rễ của tất cả
phiền não. Trong hai mươi tùy phiền não, lại chia ra có mười
tiểu phiền não, hai trung phiền não và tám đại phiền não.
Mười tiểu phiền não là: phẫn nộ, cừu hận, kết oán,
giả dối, gian trá, siểm khúc, ngạo mạn, bách hại, tật
đố, tự tư.
Hai
trung phiền não là: vô tàm, vô quí.
Tám
đại phiền não là: bất tín, giải đãi, phóng dật, hôn trầm,
trạo cử, thất niệm, tán loạn, bất chánh tri.
Chúng
ta sở dĩ không nhận ra được bản tánh chân như của mình,
là do phiền não che lấp ánh sáng tâm thể. Chúng ta sống trong
nguy hiểm, lo sợ, là do phiền não nhiễu loạn. Cội gốc của
tất cả phiền não chính là ngã chấp. Chúng sinh do chấp ngã
nên tất cả phiền não mới dấy khởi. Cho nên cổ đức nói:
Muốn học Phật Pháp, trước hết hãy vô nga. Tu chứng được
cảnh giới vô ngã, cũng chính là đạt được cảnh giới
không còn phiền não.
Ngã
chấp đây là căn bản của phiền não sinh tử. Vô ngã là
điều khó thực hiện biết bao! Ngã chấp không trừ, thì phiền
não ác không thể phá được. Cách phá phiền não ác là trước
phải tu tập ba môn vô lậu học: giới –định – tuệ, kế
nữa là niệm Thánh hiệu Phật A Di Đà thì phiền não ác sẽ
từ từ được phá trừ, bản lai diện mục của chúng ta dần
dần được hiển lộ.
Phiền
não phá rồi lại còn phải hàng ma. Những gì có thể làm
hư hoại thiện căn, dứt mất tuệ mạng của chúng sinh, đều
gọi là ma. Những chướng ngại, nhiễu loạn, phá hoại, dụ
hoặc hay cướp đoạt tuệ mạng đều gọi là ma. Ngoại cảnh
có ma: sắc thanh danh lợi; trong tâm có ma: tham sân phiền não.
Không có tinh thần hàng phục ma thì không thể tu đạo. Ma
có mặt khắp mọi nơi, nhưng nguy hiểm nhất lại là ma ẩn
tàng ngay trong tâm chúng ta! Trong các tu viện lớn, tượng Bồ
tát Vi Đà tay cầm chày hàng ma đứng mặt ngó vào mình, cho
thấy hàng phục nội ma quan trọng hơn hàng phục ngoại ma!
Phật
giáo suy vi, những vị mang tâm niệm tiếp nối làm hưng thịnh
hạt giống Phật, khiến Chánh Pháp cửu trụ Ta bà, thật hiếm
có người! Còn hạng mặc áo Phật, ăn cơm Phật, mượn danh
là đệ tử Phật để mua bán Như Lai, thì ma con, ma cháu rất
đông. Làm người con Phật chân chánh, ngày nay phải có tinh
thần khiêu chiến với ma! Thời mạt Pháp, cách Thánh lâu xa
thì Phật cao một thước, ma cao một trượng! Mong rằng đệ
tử chánh tín của Phật thời nay phải học theo Bồ tát Vi
Đà, tay cầm chày hàng ma, tuân theo lời dạy Kinh này để
hàng phục tất cả ma quỷ chướng đạo!
Kinh
văn nói: Hàng phục bốn ma. Bốn ma đó là:
1.Phiền
não ma: Đây là chỉ tập khí tham sân si v.v… làm não hại
thân tâm.
2.
Ngũ ấm ma: Đây là chỉ năm ấm: sắc, thọ, tưởng, hành,
thức hay sinh ra tất cả đau khổ.
3.
Tử ma: Đây là chỉ sự chấm dứt mạng căn sinh tồn của
chúng sinh.
4.
Thiên ma: Đây chỉ thiên ma ngoại đạo làm hư hoại thiện
căn của chúng sinh, như ma vương ở cõi trời Tự tại dục
giới.
Trong
Tiểu Chỉ Quán và Khởi Tín Sớ v.v…, đều nói cách hàng
phục bốn ma là trì niệm Thánh hiệu đức Phật A Di Đà,
hay xưng niệm tam quy, ngũ giới, hoặc tụng Bát Nhã Tâm Kinh.
Đức Phật Thích Ca khi ngồi trên tòa Kim cang dưới cội Bồ
đề, trước phải hàng phục ma, rồi sau mới thành đạo!
Phiền
não khiến chúng ta gây tạo tội ác đã phá trừ; ma chướng
làm nhiễu loạn đạo nghiệp của chúng ta đã hàng phục,
thì có thể ra khỏi luân hồi sinh tử, giải thoát lao tù ngũ
ấm, tam giới!
Ngũ
ấm là chỉ sắc thân do ngũ uẩn hòa hợp của loài hữu tình.
Ấm có nghĩa là che ngăn, vì sắc thọ tưởng hành thức thường
ngăn che chân như Phật tánh của chúng hữu tình. Tam giới
chỉ dục giới, sắc giới và vô sắc giới.
Ngũ
ấm là chỗ tụ họp của các khổ, ba cõi như ngôi nhà đang
bốc cháy. Thân tâm, thế giới đều vô thường không thật,
như lao ngục không thể nương cậy. Phải phá phiền não ác,
hàng phục bốn ma, mới có thể ra khỏi ngục ấm giới!
Chúng
sinh phải tinh tấn tu đạo, không được giải đãi, buông
xả thân năm ấm, ra khỏi nhà ngục tam giới, chứng đắc
pháp thân thường trú, an nhiên tự tại, mới là cảnh giới
an ổn, giải thoát, quang minh!
Dịch
Thơ:
Điều
thứ tư phải luôn ghi nhớ
Lười
biếng làm lỡ dở đạo tâm
Quen
theo thói tục lạc lầm
Đắm
mê sa đọa trong hầm khổ đau.
Nên
thường phải dồi trau tinh tấn
Dũng
mãnh tu phá những não phiền
Bốn
ma hàng phục bình yên
Khỏi
ngục ấm giới về miền chân như.
BÀI
GIẢNG THỨ 6
TRÍ
TUỆ LÀ CĂN BẢN ĐỂ CHUYỂN HÓA NGU MÊ
Phiên
âm:
Đệ
ngũ giác ngộ: Ngu si sinh tử, Bồ tát thường niệm: Quảng
học đa văn, tăng trưởng trí tuệ, thành tựu biện tài, giáo
hóa nhất thiết, tất dĩ đại lạc.
Dịch
nghĩa:
Điều
giác ngộ thứ năm: Ngu si phải sinh tử, nên Bồ tát thường
nhớ: Luôn học rộng nghe nhiều, để tăng trưởng trí tuệ,
và thành tựu biện tài, rồi đem niềm vui lớn, giáo hóa cho
tất cả.
Giảng
giải:
Điều
thứ năm mà bậc Đại nhân tu học Bồ tát đạo, lo sự nghiệp
liễu sinh thoát tử cần phải giác ngộ là: Do ngu si mới lưu
chuyển trong sinh tư. Để đối trị ngu si, cần phải tăng
trưởng trí tuệ. Ở đây, nên nói qua quan điểm của Phật
giáo về tri thức như thế nào.
Phật
giáo không phải là tôn giáo không coi trọng lý luận. Phật
giáo là tôn giáo tri thức và đức hạnh. Trong xã hội, học
vấn, kỹ năng được xem là điều cần thiết cho cuộc sống,
nó có thể giải quyết được những nhu cầu vật chất của
con người. Nhưng người có học vấn, có kỹ năng không nhất
định có được cuộc sống hạnh phúc. Cho dù thông đạt
được tất cả khoa học, triết học, văn học trong thế gian,
cũng chỉ là hiểu biết ngọn ngành; đối với vũ trụ, nhân
sinh vẫn không thể hiểu biết một cách triệt để.
Tri
thức thế gian là hữu lậu học, Phật Pháp mới là vô lậu
học. Tri thức thế gian lợi và hại ngang nhau, như khoa học
một mặt tạo phước cho nhân loại, mặt khác lại làm hại
cho nhân loại, như vũ khí hạt nhân, hóa học, vi trùng v.v…
đều là sản phẩm của tri thức khoa học. Phật giáo cũng
có tri thức, nhưng tri thức Phật giáo tuyệt đối có ích
mà không có hại. Tri thức Phật giáo là trí tuệ Bát nhã.
Trí tuệ Bát nhã là tri thức do trừ bỏ lòng ích kỷ, tự
tư, nghiệm chứng được trí tuệ trong tâm; không như tri thức
thế gian, do tìm hiểu hiện tượng bên ngoài mà có. Theo Phật
giáo, người ta sở dĩ không thể liễu sinh thoát tử, đều
do ngu si mà ra.
Ngu
si cũng không phải là hoàn toàn không có tri thức. Chúng ta
tìm hiểu chữ si trong chữ ngu si sẽ thấy: Chữ si (?) vốn
có chữ tri (?) trong chữ tri thức. Nhưng trên chữ si này lại
có bộ nạch (?) là bệnh tật. Ý nói tri thức bệnh hoạn
là ngu si.
Ngu
si thì tâm tánh ám muội, không có trí tuệ để thấu hiểu
sự lý, nên cũng gọi là vô minh. Do nơi ngu si nên khởi hoặc
tạo nghiệp, luân hồi sinh tử, chịu kho?vô cùng. Vì vậy,
không thể giải thoát, không nhận thức được mình, đều
do ngu si mà ra.
Ngu
si có ngu si về kiến giải (kiến hoặc) và ngu si về tư tưởng
(tư hoặc).
Ngu
si về kiến giải có năm loại:
1.
Thân kiến, 2. Biên kiến, 3. Tà kiến, 4. Giới thủ kiến, 5.
Kiến thủ kiến
Ngu
si về tư tưởng cũng có năm loại, chính là năm căn bản
phiền não mà văn trên đã giảng:
1.
Tham dục, 2. Sân hận, 3. Ngu si, 4. Kiêu mạn, 5. Nghi hoặc.
Trước
hết sẽ giải thích ngu si về kiến giải của chúng sinh.
Người
ta ai cũng ái chấp năm uẩn của mình là ngã; vật ngoài thân
là sở hữu của ngã. Họ không biết rằng thân mình là do
nhân duyên bốn đại, năm uẩn hòa hợp mà thành; vật ngoài
thân cũng là huyễn cảnh, vô thường chẳng thể bền lâu.
Thân và vật rõ ràng là do nhân duyên hòa hợp mà giả có,
chúng sinh lại lấy giả dối làm chân thật, đó gọi là thân
kiến.
Có
người cho rằng chết là hết, tất cả sẽ không còn, người
chết như đèn tắt. Có người cho rằng người chết rồi
vẫn còn là linh hồn người; trâu ngựa heo dê sau khi chết
vẫn còn linh hồn trâu ngựa heo dê. Những kiến giải chấp
thường, chấp đoạn, thiên lệch một bên như thế, gọi là
biên kiến.
Lại
có một số người thấy mặt trời, trăng sao vận chuyển,
gió mưa, điện chớp đúng thời, liền nghĩ rằng: Nhất định
phải có đấng thượng đế toàn năng điều khiển. Tin vào
thượng đế vạn năng, bài báng không có nhân quả, không
hiểu được các pháp duyên khởi, đây gọi là tà kiến.
Lại
có một số người chấp giữ những giới điều phi lý, cho
rằng đây là cách sinh lên cõi trời để hưởng thụ an lạc.
Như một số ngoại đạo tu học khổ hạnh vô ích, hay giết
hại sinh vật để cúng tế. Đây gọi là giới thủ kiến.
Chấp
trước một hay nhiều kiến giải như trên, lầm tưởng mê
vọng cho là chân lý cứu cánh, đây gọi là kiến thủ kiến.
Kế
đây sẽ giải thích ngu si về tư tưởng.
Gặp
được những gì mình yêu thích liền khởi tâm tham trước.
Nhân tâm tham ái mà sinh tâm keo kiệt. Do tâm có tham lam về
ngã (ngã tham), ái luyến về nga (ngã ái) nên hình thành tâm
tự tư, đây gọi là tham dục.
Gặp
chuyện trái ngang liền sinh tâm sân hận. Phàm không biết nhẫn
nại, sinh ra tranh cãi, hơn thua với người, hoặc âm mưu làm
hại, oán trời trách người, đều gọi là sân hận.
Không
biết thức tỉnh, sáng suốt suy xét, lung lòng mặc ý chạy
theo vật dục, không thích nghe điều thiện, lại ham làm việc
ác. Như ta khuyên người tu học, làm phước, họ lại cho là
mê tín, vô ích; còn kẻ rủ rê họ rượu chè, bài bạc, thì
lại được khen là có giao tình! Mê muội, điên đảo như
vậy gọi là ngu si.
Thấy
mình hơn người, ỷ mình lấn hiếp người khác, có bảy loại
tất cả: mạn, quá mạn, mạn quá mạn, ngã mạn, tăng thượng
mạn, ti mạn, tà mạn… đều gọi là kiêu mạn. Đối với
sự lý chân thật còn do dự không quyết định, đối với
chân lý không khởi chánh tín, đem phàm tình so lường thánh
trí, đó là nghi hoặc.
Chúng
sinh vì có ngu si về kiến giải, ngu si về tư tưởng như trên,
nên phải chịu luân hồi sinh tử. Sinh tử cũng có chia ra phần
đoạn sinh tử và biến dị sinh tử. Sinh tử trong sáu nẻo
luân hồi, do nghiệp thiện ác hữu lậu chiêu cảm ra thân
quả báo, khi này khi khác. Đó gọi là phần đoạn sinh tử.
Các bậc Thánh giả tuy hết phần đoạn sinh tư, song khi chưa
chứng được quả Phật cứu cánh, vẫn còn biến dịch sinh
tử. Sinh tử này không có hình sắc đẹp xấu, cũng không
có thọ mạng dài ngắn, mà chỉ là sự chấm dứt mê tưởng,
chứng ngộ pháp thân trong từng giai đoạn. Sự thay đổi từng
giai đoạn từ mê đến ngộ này, gọi là biến dị sinh tử.
Bồ
tát giác ngộ nhứt định phải tìm cách chấm dứt ngu si và
sinh tử. Bồ tát mong mỏi học rộng pháp thế gian và xuất
thế gian, nghe nhiều Thánh giáo, tăng trưởng trí tuệ, thành
tựu vô ngại biện tài, giáo hóa tất cả chúng sinh, khiến
cho mọi người đều được hạnh phúc, đem niềm hoan hỷ
chan hòa khắp trong cuộc đời.
Trong
Kinh nói đến ngu si liền đem bóng tối ra ví dụ, và trí tuệ
được biểu trưng bằng ánh sáng. Bồ tát học rộng nghe nhiều
thì ánh sáng trí tuệ lần lần tăng trưởng, đẩy lui bóng
tối ngu si. Kinh Bốn Mươi Hai Chương nói: "Phàm người thấy
đạo như cầm đuốc đi vào phòng tối, bóng tối liền tan,
chỉ còn ánh sáng; cũng vậy, học đạo thấy được chân
lý, vô minh liền diệt mà tuệ giác còn mãi." Cho nên, trí
tuệ là con thuyền kiên cố, vượt qua biển cả sinh già bệnh
chết; là ngọn đèn sáng lớn, phá tan bóng tối vô minh; là
phương thuốc hay, trị lành tất cả tâm bệnh; là chiếc búa
bén, đốn ngã cội cây phiền não. Vì vậy, nói Phật học,
có nghĩa là tuệ học.
Ba
môn vô lậu học của Phật giáo là giới định tue? Tuệ có
ba loại: Trí tuệ do nghe Pháp thành tựu (văn sở thành tuệ),
trí tuệ do tư duy thành tựu (tư sở thành tuệ), trí tuệ
do tu tập thành tựu (tư sở thành tuệ, tu sở thành tuệ).
Thái Hư đại sư từng nói: Từ Trí tuệ do nghe Pháp thành
tựu mà xây dựng lòng tin; từ trí tuệ do tư duy thành tựu
mà nghiêm trì cấm giới; từ trí tuệ do tu tập thành tựu
mà tương ưng định tâm.
Tại
sao nói: Tư trí tuệ do nghe Pháp thành tựu mà xây dựng lòng
tin?
Vì
nhờ nghe Phật Pháp, mới khai mở trí tuệ, hiểu rõ Chánh
Pháp; nhờ hiểu rõ nên sinh lòng tin kiên cố. Cho nên cổ đức
nói: "Phật Pháp như biển cả, chỉ có lòng tin mới có thể
vào được". Đến với Phật giáo, bước trước nhất phải
có lòng tin. Lòng tin này nhất định phải được xây dựng
trên sự nghe hiểu Phật Pháp. Nếu chưa nghe hiểu Phật Pháp,
chưa nghiên cứu Kinh luận, chưa thông hiểu đạo lý căn bản
trong đó, thì không thể nào có lòng tin chân chánh được.
Vì
sao nói: Từ trí tuệ do tư duy thành tựu mà nghiêm trì cấm
giới?
Nhờ
nghe Phật Pháp mà sinh khởi lòng tin, rồi từ lòng tin mà có
sự tư duy, tìm hiểu Chánh Pháp, nhận thấy đúng đắn, có
ích lợi, nên tuân thủ, làm theo. Lấy trí tuệ do nghe thành
tựu để thể nghiệm hành vi của mình trong khi khởi tâm động
niệm; cũng lấy đó làm tiêu chuẩn để phân định thiện
ác, đúng sai, rồi lần lần sửa đổi những tư duy sai lạc,
những thói quen không tốt trong cuộc sống. Như thế, đối
với Chánh Pháp, càng lúc càng thể nghiệm, liễu tri sâu sắc
hơn, đó gọi là trí tuệ do tư duy thành tựu. Trí tuệ do
nghe thành tựu là trí tuệ tri hành hợp nhất, hạnh giải
tương ưng; là trí tuệ đoạn trừ hết mọi việc ác, thực
hiện tất cả điều lành, có thể hoàn thành giới hạnh.
Cho nên nói: Từ trí tuệ do tư duy thành tựu mà nghiêm trì
cấm giới.
Vì
sao nói: Từ trí tuệ do tu tập thành tựu mà tương ưng định
tâm?
Trí
tuệ do nghe thành tựu là tin hiểu (tín giải); trí tuệ do
hành trì thành tựu là hành trì. Dựa trên cơ sở đó tu tập,
rèn luyện tâm ý đến mức độ thành thục, sẽ được định
tâm. Khi thân tâm an trú ở thiền định sẽ cảm thấy vô
cùng khinh an, vắng lặng, đoạn tận mọi phiền não. Đây
chính là: Từ trí tuệ do tu tập thành tựu mà tương ưng định
tâm.
Hàng
Bồ tát sơ học muốn tăng trưởng trí tuệ, trước hết phải
học rộng nghe nhiều. Học rộng nghĩa là rộng tu học giới,
định, tuệ, không nên có thành kiến môn hộ, hay cậy mình
chê người. Ngày nay có một số người tu học Phật Pháp,
nếu là người niệm Phật thì bảo ngoài Kinh A Di Đà ra không
cần phải xem các Kinh khác; người tham thiền lại bảo không
cần niệm Phật làm gì! Đây thật là trái ý chỉ Bồ tát
học rộng quá xa!
Bình
thường tôi đi hành cước các nơi cũng thường nghe người
ta hỏi tôi tu học theo tông nào. Vấn đề này tôi thật khó
trả lời. Phật Pháp đâu cần nhất định phải nhìn bằng
con mắt tông phái! Phật Pháp là toàn thể, Pháp môn vô lượng
thệ nguyện học, cần gì phải phân tông, lập phái, để
rồi tự tôn tự đắc!
Bồ
tát không những phải học rộng Kinh Luật Luận ra, lại còn
phải nghe nhiều Chánh Pháp. Nghe nhiều (đa văn) là dựa vào
nhĩ căn. Trong các căn, nhĩ căn thông lợi hơn cả. Kinh Lăng
Nghiêm nói Bồ tát Quán Âm có nhĩ căn viên thông, do vì tai
hơn hẳn mắt. Tai có ba món chân thật:
1.
Thông chân thật: Đây là nói mắt có chướng ngại thì không
thể thấy, còn tai có chướng ngại thì vẫn có thể nghe được
âm thanh.
2.
Viên chân thật: Đây là nói mắt chỉ có thể xem một hướng
phía trước, còn tai có thể đồng thời nghe âm thanh mười
phương truyền đến.
3.
Thường chân thật: Từ quá khứ truyền đến hiện tại, từ
hiện tại truyền đến vị lai, đều nhờ sự nghe biết của
nhĩ căn.
Tu
học Phật Pháp, học rộng là điều vô cùng quan trọng, mà
nghe nhiều, huân tập Chánh Pháp cũng là việc hết sức cần
thiết. Một vị Bồ tát học rộng nghe nhiều, tăng trưởng
trí tuệ, mục đích không phải chỉ vì giải thoát cho mình,
mà còn vì thành tựu biện tài, giáo hóa tất cả, khiến mọi
loài chúng sinh đều được đại an lạc.
Muốn
thuyết Pháp độ sinh, chủ yếu phải có vô ngại biện tài.
Biện tài không phải là biện luận, không phải là thế trí
biện thông. Biện luận hay thế trí biện thông chẳng qua là
dùng xảo biện để chiết phục đối phương; còn biện tài
của Bồ tát là từ trong trí tuệ văn tư tu un đúc mà lưu
xuất ra.
Nói
đến biện tài chúng ta không nên cho rằng nói thao thao bất
tuyệt là vô ngại biện tài. Có khi ta nói càng nhiều, lại
càng làm cho người nghe đã không hoan hỉ, lại còn chán ghét!
Đại
triết gia Socrates dạy phương Pháp diễn giảng cho thanh niên.
Học phí mỗi người là mười đồng. Một hôm, có một thanh
niên đến ghi danh. Sau khi đóng học phí, anh ta nói với Socrates
đủ thứ chuyện, nào là vì sao anh ta phải học diễn giảng,
cho đến học tập diễn giảng có lợi ích gì v.v…. Đợi
một hồi lâu, đến lúc anh ta nói xong, Socrates lại đòi thêm
mười đồng học phí nữa. Anh ta rất không vừa lòng hỏi:
- Người
khác đến học diễn giảng, thầy đều lấy có mười đồng
học phí, tại sao lại đòi em thêm mười đồng?
Socrates
thong thả trả lời:
- Người
khác trả mười đồng học phí, vì tôi chỉ dạy cho họ cách
diễn giảng. Nay sở dĩ thu học phí anh gấp đôi, vì tôi chẳng
những dạy anh biết cách ăn nói, mà còn phải dạy anh biết
cách im lặng!
Không
có chuyện gì mà lải nhải nói mãi, khiến người ta phát
chán, bắt họ phải bị nghe, thật là việc rất khổ não!
Trong
Kinh Duy Ma ghi: Cư sĩ Duy Ma thị hiện bệnh tật, có rất nhiều
Bồ tát, La hán đến thăm bệnh ông. Trước gường bệnh,
các vị cùng bàn luận về Pháp môn bất nhị. Thế nào là
Pháp môn bất nhị?
Sau
khi ba mươi mốt vị Bồ tát trình bày qua ý kiến của mình,
Ngài Duy Ma hỏi Bồ tát Văn Thù Sư Lợi:
- Thế
nào là Bồ tát nhập Pháp môn bất nhị?
Bồ
tát Văn Thù đáp:
- Theo
ý tôi, đối với tất cả pháp không ngôn ngữ, không thuyết
minh, không chỉ bày, không phân biệt, lìa các vấn đáp, đó
là nhập Pháp môn bất nhị.
Kế
đó Bồ tát Văn Thù lại hỏi cư sĩ Duy Ma:
- Chúng
tôi ai nấy đã nói rồi, xin Nhân giả nói thế nào là Bồ
tát nhập Pháp môn bất nhị?
Lúc
đó, Duy Ma im lặng không nói.
Văn
Thù Sư Lợi liền khen ngợi:
- Lành
thay! Lành thay! Cho đến không có văn tự, ngữ ngôn, mới thực
sự nhập Pháp môn bất nhị!
Chỗ
này thật sinh động biết bao! Khéo léo biết bao! Dùng vô ngôn
mà nói, vô ngại biện tài đến như vậy thật vô cùng tuyệt
diệu! Qua đó có thể thấy, thuyết Pháp không phải ở nói
nhiều.
Đương
nhiên, vô ngôn biện tài là cảnh giới cao nhất của ngôn
ngữ. Trong Kinh Đại Bát Nha ghi lại: Tôn giả Tu Bồ Đề là
vị khéo nói nghĩa không, một hôm đang ngồi yên trong núi
rừng, bổng thấy rất nhiều chư thiên đang rải hoa cúng dường
giữa hư không. Những đóa hoa trời ngũ sắc rơi đầy bên
mình, Tôn giả thấy vậy hỏi:
- Ai
đang rải hoa thế?
- Thưa
Tôn giả, tôi là trời Đế Thích. Vì Ngài khéo nói lý không
Bát Nhã nên tôi mang hoa đến rải cúng dường.
Tu
Bồ Đề đáp:
- Tôi
ngồi yên vốn không có nói.
- Ngài
đã không nói, tôi cũng không nghe.
- Thế
tại sao lại rải hoa cúng dường?
- Không
nói, không nghe mới là Bát nhã chân thật!
Qua
đó chúng ta có thể thấy, Thánh giả Bồ tát thành tựu biện
tài, không phải là suốt ngày nói đến ăn mà bụng lại đói;
đếm châu báu, song là của người khác, còn mình thực sự
không được chút lợi ích nào! Như Tu Bồ Đề không có mở
miệng mà trời Đế Thích khen Ngài thuyết Bát nhã hay quá.
Không nói mà nói, đây mới là biện tài chân chính!
Biện
tài được chia làm bốn loại:
1.
Pháp vô ngại biện tài: Là thông suốt không ngăn ngại đối
với ngôn ngữ, văn tự trong giáo Pháp.
2.
Nghĩa vô ngại biện tài: Là thông suốt không ngăn ngại đối
với nghĩa lý chứa đựng trong giáo Pháp.
3.
Từ vô ngại biện tài: Là tinh thông, lưu loát đối với các
ngôn ngữ, văn tự.
4.
Nhạo thuyết vô ngại biện tài: Là có trí tuệ về ba loại
biện tài trên, nên có thể thuyết Pháp một cách an lạc,
tự tại, khiến chúng sinh được giác ngộ, hạnh phúc.
Ngoài
biện tài thuyết Pháp không lời của Bồ tát và các bậc
Thánh giả ở trên ra, Đại sư Trí giả giảng Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa, suốt ba tháng mới giảng xong chữ Diệu; Pháp sư
Đạo Sinh giảng Kinh ở núi Hổ Khưu tỉnh Tô Châu, khiến
cho đá phải gật đầu; Bồ tát Quán Thế Âm đối với ba
mươi ba loại chúng sinh, dùng mười chín thứ phương tiện
ngữ ngôn để thuyết Pháp; Pháp sư An Thế Cao dịch giả Kinh
này, có thể thông hiểu tiếng của loài chim thú v.v… đều
là vô ngại biện tài.
Thành
tựu biện tài như thế, đương nhiên có thể giáo hóa được
tất cả chúng sinh. Mục đích giáo hóa chúng sinh là đem lại
niềm vui lớn cho tất cả mọi loài.
Niềm
vui lớn không phải là năm món dục lạc ở thế gian, cũng
không phải là đem vật chất ra thỏa mãn lòng tham muốn của
người ta để đổi lấy sự tín ngưỡng! Nói được niềm
vui lớn, là có thể khiến tất cả chúng sinh trong chín pháp
giới xa lìa ngu si sinh tử, thoát khỏi khổ não trong ba cõi,
chứng được niềm vui lớn của Niết Bàn cứu cánh.
DỊCH
THƠ:
Điều
thứ năm nằm lòng giác biết
Vì
ngu si muôn kiếp tử sanh
Bồ
tát phát nguyện tu hành
Nghe
nhiều học rộng Pháp lành Như lai.
Để
tăng trưởng gia tài trí tuệ
Và
tựu thành xuất thế biện tài
Giảng
Kinh giáo hóa muôn loài
Cho
niềm vui lớn, cùng ngồi tòa sen.
BÀI
GIẢNG THỨ 7
BỐ
THÍ LÀ CĂN BẢN ĐỂ RỘNG ĐỘ CHÚNG SINH
Phiên
âm:
Đệ
lục giác tri: Bần khổ đa oán, hoành kết ác duyên. Bồ Tát
bố thí, đẳng niệm oan thân, bất niệm cựu ác, bất tắng
ác nhân.
Dịch
nghĩa:
Điều
giác ngộ thứ sáu: Nghèo khổ hay oán hờn, thường kết ngang
duyên ác. Bồ Tát hành bố thí, bình đẳng với oán thân,
không nhớ đến lỗi cũ, không ghét bỏ người ác.
Giảng
giải:
Trong
đoạn Kinh trên, trước hết chúng tôi sẽ nói quan điểm về
giàu nghèo trong thế gian theo Phật giáo.
Trong
đời này, người có tiền ở nhà cao cửa rộng, ăn món ngon
vật lạ; người không tiền kiếm nhà tranh ở cũng khó, ba
bữa ăn chưa chắc đã no. Người nghèo hèn lúc gặp vận may,
của cải vào như nước. Người giàu sang khi gặp vận rủi,
phải lưu lạc xin ăn. Đây là những điều thường thấy trong
đời. Cho nên nghèo hèn không phải nghèo hèn mãi; giàu sang
cũng chẳng phải giàu sang hoài. Nghèo hèn là do xan tham, giàu
sang là nhờ hỷ xả.
Theo
cách nhìn Phật giáo, giàu và nghèo không phải ở nơi có tiền
hay không tiền. Nên biết, nghèo kho?không phải là nói người
không có tiền bạc, châu báu. Dù cho người có vàng bạc,
ngọc ngà chất đầy như núi, mà không có đạo đức, không
có học vấn, không có phước tuệ, vẫn gọi là nghèo khổ.
Trên
đời này người có tiền rất nhiều, nhưng họ không biết
khéo sử dụng tiền bạc, nên trở lại bị tiền bạc sai
sử, làm tôi mọi cho nó. Chỉ cần có tiền là chuyện gì
họ cũng dám làm, dù phi pháp, xấu xa đến mấy! Những người
này tuy có tiền, nhưng không có trí tuệ, không biết dùng
tiền vào chỗ hữu dụng, ngược lại còn gây ra đau khổ,
nên vẫn là nghèo kho?
Người
nghèo khổ thì dễ dàng khởi tâm oán giận. Họ do thấy mình
khốn khổ gian nan, nghèo cùng không nơi nương tựa, nên thường
sinh tâm oán trời trách người, ghen ghét với kẻ phước to,
học rộng; buồn giận với người sang quí, tài cao, thậm
chí tìm trăm mưu ngàn kế để hại người, gây ra biết bao
ác duyên, tạo thành vô số ác nghiệp!
Người
nghèo khổ hay oán giận những gì?
Thứ
nhất là trên oán trời. Họ hận Bồ tát sao không gia hộ,
trách thần minh sao chẳng hiển linh?
Có
những người chỉ vì cầu tài lợi trước mắt mà bị tà
giáo dụ dỗ, làm mê hoặc, ngay cả bài vị tổ tông cũng
đem đi bán! Đây là điều mà các địa phương như Cao Hùng,
Hoa Liên v.v… ở Đài Loan thường xảy ra.
Thứ
hai là dưới oán thế gian. Một mai gặp lúc nghèo khổ, thất
chí, lại trách xã hội như thế này, chủ nghĩa như thế kia,
chế độ như thế nọ.
Thứ
ba là trong oán gia đình quyến thuộc. Có nhiều người ra ngoài
gặp nhiều chuyện bực mình, về nhà lại đem vợ con ra hành
tội! Khi không có tiền, họ lại trách người trong nhà vô
dụng. Đó gọi là: Thiếu gạo vợ chồng sinh lắm chuyện!
Thứ
tư là ngoài oán thầy bạn. Người thất nghiệp thường không
trách mình thiếu tài chuyên môn, lại cứ trách bạn bè không
chịu giúp đỡ.
Những
trường hợp do nghèo khổ sinh ra oán giận như trên, không
những chỉ làm khổ cho mình, mà còn làm khổ cho người!
Nếu
về mặt vật chất không dư dả, nhưng về mặt tinh thần
lại biết tu dưỡng, thì cuộc sống của chúng ta dù đạm
bạc vẫn thấy an vui.
Người
không có tiền mà có trí tuệ đạo đức, vẫn không phải
là người nghèo khổ, và cũng không bao giờ oán trời trách
người. Thuở xưa, Nhan Hồi nghèo đến nỗi chỉ có cơm một
giỏ, nước một bầu, ai thấy cũng đều tội nghiệp, mà
ông vẫn sống an lạc như thường. Cho nên nghèo khổ hay oán
không phải chỉ đánh giá trên mặt kinh tế. Hàng ẩn sĩ ở
núi sâu, bậc đầu đà nơi cổ tự, họ tuy thiếu thốn về
mặt của cải, vật chất, song về mặt tinh thần lại giàu
có không ai sánh bằng!
Người
nghèo khổ suốt ngày không biết tu tạo phước đức, chỉ
biết kiếm tiền. Trên đời không ai giàu ba ho, vì cho dù thần
tài hoan hỷ cho bạn tiền, nhưng đàng sau thần tài còn có
quỷ nghèo đi theo đòi lại! Thực ra, dù mình có tiền mà
không biết đủ, thì thần tài cũng không thể nào làm ta vui
lòng! Nếu không biết đủ, gia tài dù muôn vạn vẫn cảm
thấy nghèo khổ, và như vậy oán giận cũng càng nhiều, ác
duyên càng kết nối, ác nghiệp càng gây tạo vô số!
Người
tu học đạo Bồ tát, không luận là nghèo giàu, đều không
oán trời trách người. Trái lại, Bồ tát còn nguyện đem
vật sở hữu của mình ra bố thí cho người. Bố thí, đây
là cách phát tài tốt nhất. Phần đông người ta nghĩ rằng
bố thí là cho người, và đã cho người, thì làm sao mình
phát tài cho được? Thực ra, đạo lý này rất đơn giản.
Như một đám ruộng, nếu ta không gieo trồng, làm sao có thu
hoạch? Không có hạt giống tu tập bố thí, thì làm sao có
hoa trái giàu sang?
Chư
Phật Bồ tát có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp,
là do nhiều đời, nhiều kiếp tu hạnh bố thí mà được.
Hành giả Đại thừa, tu học lục độ vạn hạnh, lấy bố
thí làm đầu trong sáu Ba la mật. Tâm Bồ đề, tâm từ bi
của chúng ta phải được nuôi dưỡng từ hành động bố
thí.
Thuở
xưa có một bà cụ nghèo hèn than với tôn giả Ca Chiên Diên
về sự cực khổ, nghèo đói của mình. Nghe xong, Ngài nói:
- Bà
vì nghèo mà chịu khổ, sao không bán phứt cái nghèo đi?"
- Cái
nghèo có thể bán được sao?
Bà
cụ kinh ngạc kêu lên, và tiếp theo hỏi:
- Cái
nghèo nếu bán được, thì ai mà chẳng muốn bán! Vậy trên
đời này đâu còn ai nghèo? Hơn nữa, có ai chịu mua cái nghèo
đâu?
- Bà
hãy bán cho ta!
Tôn
giả điềm nhiên đáp.
Bà
lão liền xin tôn giả chỉ cách bán cái nghèo. Tôn giải khai
thị:
Hãy
bố thí! Đó là cách bán cái nghèo. Bà nên biết giàu nghèo
trong đời đều có nhân duyên. Người nghèo hèn do đời trước
không biết bố thí tu phước. Do đó, bố thí là cách bán
nghèo, mua giàu tốt nhất.
Bà
cụ nghe rồi trí tuệ khai phát, từ đó biết tu tạo phước
đức và hành Bồ tát đạo!
Nhưng
có người sẽ nghĩ như vầy: Người có tiền đương nhiên
có thể làm việc bố thí, còn nghèo khổ như bà cụ này thì
lấy gì mà bố thí.
Nói
đến bố thí, nhiều người nghĩ phải có tiền bạc, của
cải mới bố thí được. Nhưng thực ra, bố thí có nhiều
phương diện, không phải nhất định đem tiền bạc, của
cải ra cho người mới là bố thí. Dù chúng ta nghèo đến
nỗi không có một chút gì, cũng vẫn thực hành hạnh bố
thí được! Ví dụ khi chúng ta gặp ai, mình đưa tay vẫy chào:
Anh mạnh khoẻ! Hoặc hỏi: Anh ăn cơm chưa? Hay anh từ đâu
đến? Cám ơn anh! Mời ngồi! A Di Đà Phật!
Nếu
bạn làm được như thế, thì không những sẽ gieo duyên tốt
với người, mà còn thực hành được việc bố thí ngôn ngữ.
Ngoài điều này ra, lúc bạn tiếp xúc với người mà mỉm
cười, nét mặt hoan hỉ, chú ý lắng nghe v.v…, đây chính
là bố thí vẻ mặt. Thấy người lạc đường thì chỉ lối
hay dắt họ đi. Thấy người khiêng đồ không nỗi, thì xách
hay khiêng giùm họ, thấy người làm không được thì giúp
họ làm, đây gọi là bố thí thân hành. Thấy người chịu
khổ sinh tâm thương xót, thấy người bố thí sinh tâm hoan
hỷ, đây chính là bố thí tâm ý.
Những
cách bố thí: Ngôn ngữ, vẻ mặt, thân hành, tâm ý nêu trên,
ai nếu muốn đều có thể làm được. Phật Pháp không phải
là hàng trưng bày, cũng không phải thuộc về quí tộc! Phật
Pháp là đại chúng, ai ai cũng có thể phụng hành Phật Pháp.
Kinh
nói bố thí có ba cách: Tài thí, Pháp thí và vô úy thí.
Tài
thí là đem tiền của, phẩm vật ra giúp cho người; Pháp thí
là đem tri thức, kỹ thuật, Chánh Pháp ra dạy cho người;
vô úy thí là bảo vệ công lý chính nghĩa, vì xã hội dẹp
trừ bạo loạn, giúp tinh thần của mọi người được an
ổn, không lo sợ.
Hành
bố thí là điều dễ dàng. Nhưng thực hành bố thí đạt
đến chỗ cả ba đều không là điều rất khó. Khi bố thí
người ta dễ nảy sinh ra tâm lý mong người cảm ơn, báo đáp
hay ca ngợi công đức của họ. Chẳng những vậy, họ còn
cảm thấy mình bố thí được là điều hết sức vinh dự,
hay khinh rẽ người nhận vật bố thí. Nếu đem tâm như thế
ra bố thí, chỉ là hạnh lành ở thế gian, mà không phải
hạnh bố thí của Bồ tát. Trong Phật Pháp, bố thí cần phải
đặt trên nền tảng cả ba đều không. Một, không có bản
ngã ta là người bố thí. Hai, không có thấy đây là người
thọ thí. Ba, không thấy kia là vật bố thí. Trong Phật Pháp,
hành hạnh bố thí mà không thấy mình hành bố thí, tu công
đức mà không thấy mình được công đức. Thực ra, mình
không cầu công đức, công đức lại càng vô lượng! Đó
gọi là:
Cố
ý trồng hoa, hoa chẳng nở
Vô
tâm tiếp liễu, liễu xanh tươi!
Bố
thí cho người thân hay người mình yêu mến thì dễ, bố thí
cho người mình oán hận, đó mới là điều rất khó. Biếu
quà cho người mình yêu thích là vì thỏa mãn lòng yêu mến
của mình; còn biếu quà cho kẻ mình không thích mới thật
là hành hạnh bố thí. Vì thế, Bồ tát bố thí phải bình
đẳng oán thân. Không luận chúng sinh là kẻ oán hay người
thân, Bồ tát đều bố thí một cách bình đẳng. Nếu có
người xưa kia làm hại mình, nay gặp lúc họ mắc nạn nhờ
mình cứu giúp, trong lòng ta nhất định sẽ không mấy bằng
lòng, hoan hỉ giúp đỡ. Đây là do tâm từ bi của chúng ta
không đủ. Nói đến đây tôi chợt nhớ đến nhân cách của
Pháp sư Từ Hàng.
Pháp
sư đã kể một chuyện mà bản thân gặp phải như sau. Khi
Pháp sư giữ chức y bát (tên một chức sự trong tòng lâm)
ở Cổ sơn, một hôm Ngài đi vệ sinh quên mang theo giấy, nên
xin vị trà đầu (người lo việc trà nước trong chùa) cũng
đang đi vệ sinh bên cạnh. Vị này vốn là người xấu tính,
nên lấy giấy đã dùng rồi đưa cho, khiến tay Ngài cầm dính
đồ dơ! Vị kia trêu chọc người như vậy, gặp ai khác chắc
đã nổi giận, nhưng Pháp sư vẫn điềm nhiên như không.
Một
hôm Pháp sư Từ Hàng dời phòng , vị kia lại đến. Pháp sư
mới nói với ông ấy:
Ông
đến thật may quá, nhờ ông giúp tôi xem chừng đồ đạc
một lát, tôi mang tấm mềm bông đi trước, sẽ trở lại
liền. Một lát sau Ngài quay trở lại, phát hiện ra một trăm
đồng tiền bạc để trong ngăn kéo thiếu mất sáu mươi bảy
đồng. Ngài rất ngạc nhiên, chợt nghĩ ra, đây nếu không
phải là vị trà đầu này lấy thì còn ai? Điều này thì
không thể nói ra được. Nếu nói ra rất có quan hệ đến
danh dự người ta. Mất tiền còn có thể tìm lại được,
còn mất danh dự thì thật khó lấy lại. Ngài nghĩ đến đó,
nên giả như là không hay biết gì.
Một
lát sau vị trà đầu cáo từ. Từ lão lại tặng ông mười
lăm đồng bạc.
Ông
ấy không chịu nhận. Nhưng Pháp sư nói rằng làm người phải
giúp đỡ lẫn nhau, ông làm chức y bát mỗi tháng được hai
mươi đồng, tặng bớt một chút đâu có sao? Nghe vậy, vị
trà đầu mới nhận.
Không
lâu sau, người trong chùa nghi vị trà đầu này sao có nhiều
tiền quá, không biết từ đâu có? Vị trà đầu mới bảo
là do Pháp sư Từ Hàng cho. Có người hỏi Từ lão có đúng
vậy không. Gặp người khác nhất định sẽ nói ra hành vi
trộm cắp của người kia, nhưng Ngài vẫn từ bi độ lượng,
không nói xấu hắn một tiếng nào. Hành vi không nhớ lỗi
cũ, không ghét người ác này, nếu không có tinh thần bình
đẳng oán thân thì không thể làm nổi. Bố thí cho người
từng gây oán với mình, không nói lỗi cũ của người từng
làm hại mình, tinh thần này thật vĩ đại biết bao!
Từ
lão lại nói với tôi, ông trước giờ vốn là người gầy
yếu, song từ khi xảy ra vụ này, lần lần trở nên mập mạnh,
cái bụng Di Lặc cũng từ từ to ra! Không nhớ lỗi cũ, không
ghét người ác, người học Phật không nên giận cách đêm.
Tinh thần: Thà người phụ ta, chớ ta không phụ người, đã
khuyên người học hạnh Bồ tát nên khoan dung với người
lầm lỗi, dành cơ hội cho họ ăn năn, cải đổi, giúp đỡ
họ quay về nẻo chánh. Đây mới là chân chính độ sinh. Không
nhớ lỗi cũ, không báo cừu rửa hận là điều mà người
có tu dưỡng dễ dàng làm được; còn không ghét người ác,
tức người oán ghét khi gặp mặt, mà mình không sinh tâm oán
ghét mới là điều rất khó. Muốn làm được oán thân bình
đẳng, nếu không có tấm lòng của Bồ tát thì không thể
được. Nên biết, oán giận là điều tương đối. Mình giận
người, người cũng giận mình. Mọi người đối với oán
giận nên mở không nên buộc. Mình khoan thứ với người,
thì người cũng khoan thứ với mình. Chúng ta không thể sống
cô độc một mình, quả đất tròn, có ngày gặp mặt. Người
mình yêu thích để lòng thương yêu, kẻ mình oán giận cũng
mở lòng thương yêu, như vậy mới có thể làm được việc
oán thân bình đẳng.
Thuở
Phật còn tại thế, Đề Bà Đạt Đa nhiều phen làm hại đức
Phật, như sai người hành thích, lăn đá trên núi xuống, cho
voi say giày xéo v.v…, nhưng Ngài chẳng những không báo thù,
mà còn thường nói: Đề Bà Đạt Đa là tăng thượng duyên
cho ta, Đề Bà Đạt Đa là thiện trí thức của ta! Xem người
ác như thiện trí thức, Phật sở dĩ là Phật vì có lòng
từ bi bao trùm trời đất, có đức khoan dung đối với người
ác.
Thế
giới Ta bà là đời ác năm trược. Trong đời ác năm trược,
nghịch tăng thượng duyên rất nhiều, trong nghịch cảnh mà
tu tập, thì thành tựu rất mau. Trong cuộc sống tu hành, nếu
có người ác phá hoại, đây không phải là một điều bất
hạnh, trái lại, nó còn giúp cho đạo nghiệp chúng ta dễ
dàng thành tựu.
Không
có bóng tối, làm sao hiển hiện được ánh sáng quang minh?
Không có ác độc, làm sao có những điều lương thiện? Cho
nên, phiền não tức Bồ đề, hành giả Đại thừa không oán
ghét người ác, không sợ phiền não. Chỉ cần có tâm niệm
oán thân bình đẳng, thì điều ác cũ là ân huệ của chúng
ta, còn người ác là thiện tri thức của mình. Mây mù tan
hết, sẽ là ánh dương quang rực rỡ chiếu soi!
Dịch
thơ:
Điều
thứ sáu phải nên giác ngộ
Nghèo
khổ nhiều tật đố trách phiền
Thường
gây lắm việc oan khiên
Ngang
nhiên kết buộc ác duyên với người!
Bậc
Bồ tát độ đời bố thí
Bình
đẳng tâm không nghĩ oán thân
Càng
thương những kẻ ác nhân
Khoan
dung hỉ xả những phần lỗi xưa.
BÀI
GIẢNG THỨ 8
TRÌ
GIỚI LÀ CĂN BẢN ĐỂ TIẾT CHẾ DỤC VỌNG
Phiên
âm:
Đệ
thất giác ngộ: Ngũ dục quá hoạn, tuy vi tục nhân, bất nhiễm
thế lạc. Thường niệm tam y, bình bát pháp khí, chí nguyện
xuất gia, thủ đạo thanh bạch, phạm hạnh cao viễn, từ bi
nhất thiết.
Dịch
nghĩa:
Điều
giác ngộ thứ bảy: Năm dục là tai họa, tuy là người thế
tục, nhưng không nhiễm dục lạc, thường nhớ nghĩ ba y, bình
bát và pháp khí, chí mong được xuất gia, giữ đạo luôn
trong sạch, hạnh thanh tịnh cao xa, từ bi với tất cả.
Giảng
giải:
Trong
điều giác ngộ thứ hai, chúng tôi từng giảng qua nhiều lòng
dục là kho? nói lòng dục chính là căn bản của sinh tử,
rồi chỉ ra phương pháp để đối trị nhiều lòng dục là
ít muốn vô vi.
Nay
trong bài giảng này, sẽ thuyết minh tội lỗi, tai họa của
năm dục, lại đưa ra phương pháp trì giới, sống đời phạm
hạnh là phương thuốc đối trị tham dục. Ở đây, chúng
tôi sẽ thuyết minh giới học trong Phật Pháp, tức đề tài:
Trì giới là căn bản để tiết chế dục vọng. Người đời
không có trí tuệ, cho rằng tham đắm năm dục là vui. Nhưng
Bồ tát giác ngộ thấy tham đắm năm dục sẽ gây ra các tội
lỗi, cho đến chịu tai họa trong sinh tử luân hồi.
Năm
dục theo thế gian là: tài, sắc, danh, thực , thùy.
Tài
là tiền bạc của cải.
Sắc
là tình yêu nam nữ.
Danh
là địa vị danh tiếng.
Thực
là ăn uống vị ngon.
Thùy
là giải đãi hôn trầm.
Năm
dục theo Phật Pháp là: sắc, thanh, hương, vị, xúc.
Sắc
là hình sắc xinh đẹp.
Thanh
là âm thanh êm tai.
Hương
là hương thơm nồng nàn.
Vị
là vị ngon vừa miệng.
Xúc
là xúc chạm ưng ý.
Cuộc
đời không thể hoàn toàn phủ nhận là không có thú vui của
năm dục. Vì theo kinh nghiệm cảm quan của căn thức con người,
thì năm dục quả có thể dẫn đến hỉ lạc tạm thời, không
triệt để. Người ta vì nó mà không tự chủ, bị mê hoặc,
suốt ngày làm nô lệ cho năm dục, tham cầu vọng tưởng khiến
cuộc sống không lúc nào được tự tại, an lạc.
Tài
là tiền bạc, của cải. Nó vốn để người ta sử dụng,
nhưng có tiền bạc, của cải chưa chắc đã hạnh phúc. Người
ta vì tiền mà chết rất nhiều. Hai ba năm trước đây, báo
chí đăng tin Uông Chấn vì mưu đoạt tiền bạc mà phanh thây
người bạn thân hơn hai mươi năm của mình là Trương Xương
Niên làm ở ngân hàng Đài Loan! Tình bạn thân mà tàn ác như
vậy, không phải đều do tham tiền bạc mà gây ra sao?
Sắc
là tình yêu trai gái. Trong hoàn cảnh thuần phong mỹ tục suy
đồi hiện nay, tình ái có ma lực rất lớn. Chúng ta thấy
nhan nhản, nghe đầy tay những vụ án tạt acid, giết tình
địch xảy ra hàng ngày trong xã hội. Ngày nay, trai gái yêu
đương xen lẫn với thù hận, vì thù hận mà dẫn đến kết
cuộc bi thảm, như tằm nhả tơ tự trói buộc lấy mình.
Danh
là địa vị danh tiếng. Cổ ngữ bảo: thời Tam đại về
trước, người ta sợ rằng mình hiếu danh; thời Tam đại
về sau, người ta chỉ lo mình không hiếu danh! Yêu thích thanh
danh vốn là điều rất tốt, nhưng mỗi khi cạnh tranh tuyển
cử, người ta vì tranh danh mà không ngại gì công khích lẫn
nhau, đưa nhau ra tòa. Thật đúng là: Cây càng to thì gió càng
lớn; danh càng cao, ghét nhau càng nhiều! Hay: Leo lên càng cao,
ngã xuống càng đau! Viên Thế Khải không phải vì quá trọng
danh vị mà bị đời sau phỉ nhổ hay sao?
Thực
là ăn uống vị ngon. Người ta không ăn không thể sống. Nhưng
ăn quá đáng gây ra các bệnh đường ruột, bao tử là tự
làm khổ mình. Thậm chí có nhiều người vì tham ăn mà trúng
độc. Có người nói: Chiến tranh trên thế giới đều do vấn
đề bánh mì! Như vậy có thể thấy, tham dục về ăn có tai
hại lớn đến dường nào! Người ta suốt ngày xuôi ngược
đông tây, tìm cầu suy tính, đều không phải vì miếng ăn
cả hay sao?
Thùy
là giải đãi hôn trầm. Ngủ nghỉ vừa phải là điều cần
thiết. Tham ngủ quá đáng, giải đãi hôn trầm, lại là việc
không nên. Đời người nếu sống được chín mươi năm, mỗi
ngày ngủ tám giờ thì đã có ba mươi năm trôi qua trong ngủ
nghỉ! Vì thế, tham ngủ có hại đến đạo nghiệp, có biết
bao nhiêu việc có ý nghĩa cần làm, lẽ nào vì ngủ nghỉ
mà làm lỡ mất hay sao?
Không
luận tài sắc danh thực thùy, hay sắc thanh hương vị xúc,
dục vốn không nhất định là tội ác. Chúng ta sống với
năm dục thích đáng là điều không có gì đáng trách.
Trong
Kinh nói: Nam nữ, ẩm thực, danh dự không phải thực sự là
dục, nó chỉ là pháp chướng đạo mà thôi. Nhưng nếu phóng
túng lòng dục, sẽ do nơi lòng dục về nam nữ v.v…, gây
tạo ra các tội ác tày trời. Cổ đức bảo: Tài sắc danh
thực thùy, năm gốc rễ địa ngục. Người phóng túng lòng
dục nên suy xét kỹ lời nói này!
Sống
trong đời vốn không thể xa lìa được tài sắc danh thực
thùy. Vì sao trong Kinh lại nói rằng: Năm dục là tai họa?
Tham cầu năm dục đưa đến gây tạo tội lỗi, rước lấy
tai họa là điều thường xuyên xảy ra. Nói tóm lại, những
tội lỗi, tai họa của năm dục là:
1.
Tăng thêm đấu tranh.
2.
Làm khổ não người.
3.
Gây ra họa hại.
4.
Không có chân thật.
5.
Không được trường cữu.
Năm
dục đối với người như mật ngọt dính trên lưỡi dao,
không đủ cho một bữa ăn ngon. Nhưng trẻ con vì không biết
sự tai hại của nó, nên đưa lưỡi ra liếm, phải chịu tai
họa đứt lưỡi!
Ngũ
dục gây cho người tai họa to lớn như vậy, cho nên: Tuy là
người thế tục, nhưng không nhiễm dục lạc. người Phật
tử tại gia sống trong vòng thế tục mà đoạn trừ ngũ dục
là việc khó thể làm được. Nhưng chỉ cần không bị dục
lạc của thế gian ô nhiễm là được.
Cư
sĩ Duy Ma Cật trong thành Tỳ Da Ly là một vị trưởng giả
giàu có. Đó gọi là: Tuy sống ở nhà, không vướng ba cõi,
hiện có vợ con, thường tu phạm hạnh. Hay: Hiện việc phàm
phu, không rời đạo pháp. Hay: Chỉ có trừ bệnh, mà không
trừ pháp.
Ở
đời cần phải hăng hái xây dựng, mở ra một cảnh giới
an lạc cho cuộc sống. Cảnh giới an lạc này ở ngay trong
nhân quần, xã hội! Chúng ta chỉ cần không bị năm dục làm
mê hoặc, trói buộc, thì dù sống trong cuộc đời ngũ dục
cũng không ngại gì. Như trưởng giả Tịnh Danh đối với
nhân sinh và xã hội hiện thực vẫn vô cùng lạc quan. Ông
ấy là điển hình của hàng tại gia học Phật. Sống trong
cuộc đời ngũ dục mà muốn không bị ngũ dục làm ô nhiễm,
đây là điều vốn không dễ dàng. Nhưng người tu học Bồ
tát đạo không thể bị ngũ dục làm ô nhiễm. Chỉ cần chúng
ta đem Pháp lạc thay thế dục lạc, lấy việc tu tập để
đối trị tham dục, thì cuộc sống tự nhiên sẽ tự tại,
an lạc.
Lấy
việc tu tập để đối trị ngũ dục có hai cách: Một là
của đệ tử xuất gia, hai là của đệ tử tại gia.
Phật
tử tại gia muốn không bị chìm đắm trong ngũ dục, ít nhất
phải giữ gìn năm giới.
1.
Không sát hại bừa bãi, phải có lòng nhân từ.
2.
Không lấy của phi pháp, phải tôn trọng đạo nghĩa.
3.
Không tà dâm, phải giữ gìn lễ giáo.
4.
Không vọng ngữ, phải chân thật, thành tín.
5.
Không uống rượu, phải bình tỉnh, sáng suốt.
Năm
giới này là căn bản làm người. Đại sư Thái Hư nói: Nhân
cách thành tựu thì Phật thành tựu. Làm người nếu làm tốt
đẹp, thì việc tu học theo Phật Pháp tự nhiên cũng thành
tựu. Làm người tốt đẹp thực ra cũng không phải là việc
dễ dàng gì. Socrates ban ngày cầm đuốc đi ngoài đường.
Ai hỏi ông làm gì, ông đều trả lời:
- Tôi
muốn tìm xem có ai là Người trên đời này không!
Người
gìn giữ năm giới trên đời này rất ít, mà kẻ giữ được
trọn vẹn lại càng ít hơn!
Vừa
nói đến trì giới, người mới vào đạo rất là e sợ. Họ
cho rằng giới luật là sự ràng buộc: Điều này nên làm,
điều kia không nên làm. Thật ra, giới là phòng ngừa điều
phi pháp, cấm ngăn việc xấu ác (phòng phi chỉ ác). Giới
chẳng những không phải là ràng buộc, mà còn mang nội dung
tự do một cách tuyệt đối. Nói tự do là nói đến nguyên
tắc không làm trở ngại, xâm phạm người khác. Giới luật
là gìn giữ thân tâm chúng ta, không để xâm phạm vào người
khác.
Như
sát sinh là xâm phạm đến tự do sinh mạng của người. Trộm
cướp là xâm phạm đến sự an toàn tài vật của người.
Tà dâm là xâm phạm, làm hại đến sự hòa hợp, hạnh phúc
của người. Nói vọng là xâm phạm, làm hại đến niềm tin
của người khác. Uống rượu là xâm phạm, làm hại đến
mình và người. Giả như chúng ta đến nhà giam để điều
tra tội của các phạm nhân, thì hầu hết đều vì vi phạm
năm giới! Tội giết người là tội phạm giới sát sinh. Tội
trộm cướp, lừa gạt, chiếm dụng, tham ô là tội phạm giới
trộm cướp. Tội phá hoại gia cang, vi phạm thuần phong mỹ
tục, vợ bé, cưỡng hiếp v.v… là phạm giới tà dâm. Tội
lừa đảo, dụ dỗ, bói toán gạt người, vu khống làm hại
danh dự, tung tin đồn thất thiệt v.v… là phạm giới nói
vọng. Tội buôn bán thuốc phiện, hút chích ma túy, say rượu
quậy phá, đánh nhau v.v… là phạm giới rượu.
Phàm
làm người ai cũng phải giữ giới. Năm dục như nước lũ,
rất dễ gây nên tai họa. Nếu có đê trì giới ngăn chặn,
biển tham dục sẽ không gây ra tai họa.
Trong
Kinh nói: Thường nghĩ đến ba y, bình bát và pháp khí, chí
mong được xuất gia, giữ đạo luôn trong sạch. đây là nói
người cư sĩ tại gia, thân tuy không xuất gia mà tâm thường
hâm mộ nếp sống thanh tịnh với ba y, bình bát, và giới
luật của người tu sĩ xuất gia. Nếu ai làm được như vậy,
sẽ xa lìa mọi trói buộc, giữ gìn nhân cách mình được
trong sạch, thanh cao.
Ba
y, bình bát, pháp khí đều là những vật của người xuất
gia. Ba y là chỉ ca sa, chia làm ba loại.
1.
Tăng Già Lê (đại y)
2.
Uất Đa La Tăng (y thất)
3.
An Đà Hội (y ngũ)
Bình
bát là đồ đựng thức ăn khất thực. Tiếng Phạn là Bát
Đa La (pAtra), Trung Hoa dịch là ứng lượng khí, vì nó có hình
thể, màu sắc và thể lượng tương ứng. Pháp khí là những
vật dụng giúp cho việc tu hành như pháp cổ, pháp loa, pháp
đăng, pháp tràng cho đến chuông, mõ, khánh v.v….
Không
luận là ba y, bình bát hay pháp khí đều là đại biểu cho
Tăng đoàn thanh tịnh, tượng trưng cho nhân cách của người
tu hành. Hoàng đế Thuận Trị có bài thơ rằng:
Cơm
chùa thiên hạ có thiếu chi
Bình
bát tùy duyên khắp chốn đi
Vàng
ngọc thế gian đâu phải quí
Đắp
được ca sa mới diệu kỳ!
Hoàng
đế Thuận Trị khen ngợi bình bát, ca sa, cũng chính là khen
ngợi Tăng đoàn xuất gia. Người ta phần nhiều có tâm lý
quên ân phụ nghĩa, thích ghi nhớ cừu hận mà không chịu
nghĩ đến ân tình. Trong xã hội, ta dù cả ngàn lần giúp
người mà chỉ một lần không làm vừa ý họ là bị hiềm
giận! Nên Kinh này dạy người đệ tử tại gia học Phật
phải thường nghĩ nhớ đến ba y, bình bát, pháp khí, không
nên nhớ đến lầm lỗi của người. Phật tử tại gia như
Trưởng giả Duy Ma Cật, phu nhân Thắng Man đều là Bồ tát
tại gia. Văn Thù, Phổ Hiền đều hiện tướng Bồ tát tại
gia để giáo hóa chúng sinh. Chỉ có Địa Tạng Bồ tát là
hiện tướng xuất gia. Bồ tát không có phân biệt trên hình
tướng là xuất gia hay tại gia, mà chỉ dựa vào sự phát
tâm tu hành để đánh giá phẩm vị cao hay thấp. Hơn nữa,
nói về xuất gia cũng có bốn hạng khác nhau:
1.
Thân tâm đều xuất gia: Đây là chỉ các vị Tỳ kheo không
tham luyến các cảnh dục.
2.
Thân tại gia mà tâm xuất gia: Đây là chỉ hàng cư sĩ tuy
thọ dụng ngũ dục mà tâm không đắm nhiễm.
3.
Thân xuất gia tâm không xuất gia: Đây là hạng tu sĩ đầu
tròn áo vuông mà tâm vẫn luyến ái thế tục.
4.
Thân tâm đều không xuất gia: Đây là chỉ người thế tục
thọ dụng năm dục, chìm đắm trong ái nhiễm.
Đứng
trên phương diện nào xét cũng vậy, người học đạo không
luận xuất gia hay tại gia đều như nhau không khác. Phật tử
tại gia tuy thân không mặc ca sa, nhưng chỉ cần chí mong được
xuất gia, tức tâm xuất gia là tốt rồi. Vua Đường Thái
Tông là Lý Thế Dân nói: Xuất gia là việc của bậc đại
trượng phu, không phải là kẻ làm tướng văn, tướng võ
có thể đảm đương nỗi. Nếu không thể làm một vị Tỳ
kheo xuất gia có khả năng hoằng Pháp lợi sinh, thì tốt hơn
nên làm vị cư sĩ tại gia hộ trì Chánh Pháp!
Trong
hàng ngũ Phật giáo ngày nay, phần nhiều người xuất gia không
ra xuất gia, người tại gia không ra tại gia, thật khiến cho
chúng ta vô cùng xót xa! Người xuất gia thì ham phú quý vinh
hoa trong xã hội, sống chỉ mong cầu vật chất, bị thế tục
hóa; người tại gia lại thích can thiệp vào việc của Tăng
đoàn, quản lý chùa chiền, đây đều là hiện tượng không
tốt đẹp. Hy vọng rằng sau này, hàng Bồ tát tại gia ủng
hộ Phật Pháp, hộ trì Tam Bảo, chú trọng về việc từ thiện
trong xã hội, không nên vì quyền lợi quản lý tài sản trong
các tự viện mà tranh giành với hàng Tỳ kheo; cũng hy vọng
sau này, người xuất gia trụ trì Phật Pháp, trụ trì Tam Bảo,
phải có một nền tảng đức hạnh, học vấn vững chắc,
để lãnh đạo Phật tử tại gia trong sự nghiệp giáo dục,
văn hóa, từ thiện. Được như vậy, Phật giáo may mắn lắm
thay! Chúng sinh may mắn lắm thay! Kinh này chỉ ra người tại
gia cần phải chí mong được xuất gia, giữ đạo luôn trong
sạch; người xuất gia phải hạnh thanh tịnh cao xa, từ bi
với tất ca.
Hạnh
thanh tịnh tức là phạm hạnh. Phạm có nghĩa là thanh tịnh,
hạnh là hành vi cách sống. Cách sống xa lìa lỗi lầm, dục
lạc, đó là phạm hạnh. Từ là đem đến cho chúng sinh niềm
vui, bi là làm vơi hết khổ đau của chúng sinh. Thương yêu
giáo hóa đó là từ bi. Đệ tử xuất gia phải thực hành
hạnh thanh tịnh đến chỗ cao xa, dùng lòng từ bi vô ngã để
đối đãi với tất cả chúng sinh, đem ân huệ ra chan rải
khắp cuộc đời!
Dịch
thơ:
Điều
thứ bảy nhớ ghi giác biết
Ngũ
dục là muôn kiếp họa tai
Thân
tuy ở tục qua ngày
Tâm
không đắm nhiễm trần ai thói đời.
Thường
nhớ nghĩ ba y, bình bát
Tiêu
biểu cho Bồ tát xuất gia
Chí
mong sớm được xa nhà
Sống
đời giải thoát an hòa thanh cao.
Lập
nguyện lớn cầu Vô thượng đạo
Hạnh
kiên trì hoài bão độ sanh
Dù
bao chướng ngại tu hành
Vẫn
không lay chuyển hạnh lành từ bi!
BÀI
GIẢNG THỨ 9
TÂM
ĐẠI THỪA LÀ CĂN BẢN PHỒ ĐỘ CHÚNG SINH
Phiên
âm:
Đệ
bát giác tri: Sinh tử xí nhiên, khổ não vô lượng, phát Đại
thừa tâm, phổ tế nhất thiết, nguyện đại chúng sanh, thọ
vô lượng khổ, linh chư chúng sanh, tất cánh đại lạc.
Dịch
nghĩa:
Điều
giác ngộ thứ tám: Sinh tử luôn thiêu đốt, khổ não thật
vô biên, nên phát tâm Đại thừa, cứu độ khắp tất cả,
nguyện thay thế chúng sinh, gánh chịu vô lượng khổ, khiến
cho tất cả loài, đều được đại an lạc.
Giảng
giải:
Tám
điều giác ngộ của Bồ tát mà Kinh này nói, điều thứ nhất
là thế gian quan của Phật giáo; điều thứ hai đến điều
thứ bảy là nói nhân sinh quan của Phật giáo. Điều giác
ngộ cuối cùng này là tông yếu của Kinh, thuyết minh: Đại
thừa tâm là căn bản phổ độ chúng sinh.
Chúng
ta đọc Kinh này từ đầu đến cuối đều nói về thế gian
là vô thường, khổ không, vô ngã, bất tịnh, cho đến ngũ
dục là tai họa, đa cầu là tội lỗi, phải lìa sinh tử,
phải ra ba cõi, thì dường như thuộc về tư tưởng tiểu
thừa. Nhưng tông chỉ chính yếu của Kinh này là muốn người
học Phật phát tâm đại từ bi, độ khắp chúng sinh; thay
chúng sinh đảm đương khổ nạn. Đây hoàn toàn là tư tưởng
Đại thừa nhập thế.
Tu
học Tiểu thừa chỉ cầu giải thoát cho riêng mình, còn đối
với việc cứu độ chúng sinh thì không có một chút nhiệt
tình. Cuộc sống độc thiện kỳ thân này, mang nặng màu sắc
chủ nghĩa cá nhân. Nhưng hành giả Đại thừa chẳng những
cầu giải thoát cho riêng mình, mà còn mang bi nguyện cứu đời
giúp người, làm những việc lợi lạc cho hữu tình trong xã
hội. Đây chính là ý chỉ và tâm yếu của Kinh này.
Đức
Phật thuyết Pháp, trong rất nhiều Kinh điển đều lấy hàng
Tỳ kheo làm đối tượng. Nhưng Kinh Bát Đại Nhân Giác này
lại thiên về Phật tử tại gia, nhằm hướng dẫn hàng cư
sĩ học Phật phải cải thiện cuộc sống như thế nào, nhận
thức thế gian như thế nào, cho đến phổ độ chúng sinh như
thế nào.
Kinh
văn của Kinh này tuy ngắn gọn, mà thật có thể đại biểu
cho tư tưởng Tiểu thừa, Đại thừa trong Phật giáo. Theo
Kinh này, hành giả muốn tu học Bồ tát đạo, bước đầu
tiên phải tu Pháp môn Tiểu thừa. Cho nên, hành giả trước
hết phải đối với danh lợi giả dối trong thế gian triệt
để buông bỏ, rèn luyện thân tâm, tích cực chuẩn bị đạo
lực đến mức không còn bị thế gian ô nhiễm, rồi sau mới
tùy nghi bước vào cuộc đời cứu giúp chúng sinh. Đây mới
gọi là Bồ tát chân chính.
Không
luận là hành giả Tiểu thừa thiên về thoát ly thế gian,
hay hành giải Đại thừa thiên về phổ độ chúng sinh, cả
hai đều có cái nhìn chung là: Sinh tử thiêu đốt, khổ não
vô biên.
Chúng
sinh trong vòng luân hồi gây tạo biết bao tội lỗi. Thân phạm
sát sinh, trộm cướp, tà dâm; tâm đầy tham lam, sân hận,
si mê. Những nghiệp tội vô lượng vô biên đó, như ngọn
lửa trong kiếp hỏa đốt cháy thế gian, thiêu đốt thân tâm,
khiến chúng sinh phải chịu biết bao khổ não. Nói đến khổ
não vô lượng, trong Kinh cũng tùy lúc nói có hai khổ, ba khổ,
tám khổ v.v…. Tóm lại Ta bà là thế giới khổ đau. Văn
trước chúng tôi đã từng nói qua thân có các khổ về già
bệnh chết; tâm có các khổ về tham sân si ; gia đình có các
khổ về ân ái biệt ly; quyến thuộc có các khổ về không
được hòa hợp; xã hội có các khổ về cầu muốn không
được, oán thù gặp nhau; quốc gia có các khổ về chiến
tranh, giặc giã; thiên nhiên có có các khổ về lũ lụt, động
đất, giông bão….
Khổ
chi phối thế gian, bức bách chúng sinh. Mục đích của chúng
ta học Phật là giải thoát đau khổ. Nhân sinh là khổ. Nhưng
chúng ta cần phải hỏi: Khổ từ đâu ra? Khổ từ đa dục
mà ra. Đa dục từ chỗ nào có? Đa dục từ chấp ngã có.
Vì sao chấp ngã gây ra khổ? Vì sự tương quan giữa ngã chấp
và pháp chấp không được điều hòa. Có cái khổ do mình
và vật mà có, đó là do mình mong cầu vật chất mà không
thỏa mãn. Có cái khổ do mình và người mà có, đó là do
quan hệ đụng chạm giữa ta và người. Có cái khổ do mìmh
và thân tâm mà có, đó là già, bệnh, phiền não, vốn đi
theo, cùng có mặt với sinh. Có cái khổ do mình và dục vọng
cộng với nhận thức mà có, đó là do nội tâm chúng ta nhận
thức sai lầm thế gian mà ra. Chúng ta bị khổ não bao vây,
không luận là ai, cũng đều có nguyện vọng chung là giải
thoát đau khổ. Cho nên trách nhiệm của Bồ tát là phải phát
tâm Đại thừa, độ tất cả chúng sinh thoát khỏi khổ ách.
Nói
đến độ tất cả chúng sinh thoát khỏi khổ ách, có chia
ra hai cách khác nhau. Một là trước cứu độ mình rồi sau
cứu độ người. Hai là trước cứu độ người, còn mình
chưa được độ vẫn không cần kíp lắm.
Trước
cứu độ mình rồi sau mới độ người là bảo: Mình nếu
chưa được độ, làm sao có thể độ được người? Biển
khổ mênh mông, chúng sinh chìm đắm, mình nếu không biết
bơi thì làm sao cứu với họ được? Vì vậy, muốn phổ độ
tất cả chúng sinh, trước hết mình phải liễu thoát sinh
tử, không còn ưu bi khổ não.
Còn
nói trước độ người mà mình chưa được độ, đây mới
là Bồ tát phát tâm. Học Bồ tát là ngay nơi chúng sinh mà
học. Bồ tát lìa chúng sinh ra cũng không gọi là Bồ tát.
Lúc cứu độ chúng sinh viên mãn, cũng là lúc Bồ tát đạo
của mình viên mãn.
Không
luận là nói cách nào, đã phát tâm Đại thừa học đạo,
nguyện độ khắp tất cả chúng sinh, thì việc trọng yếu
hơn hết là hoằng Pháp lợi sinh. Đối với Bồ tát, hoằng
Pháp là bổn phận tất nhiên, lợi sinh là hoài bão xưa nay,
không một chút chần chờ, do dự. Đây chính là thái độ
Bồ tát Đại thừa đối với cuộc đời. Nói phát tâm Đại
thừa, vậy thế nào là tâm Đại thừa? Phật giáo chia ra Đại
thừa và Tiểu thừa. Đại thừa là chỉ Bồ tát, Tiểu thừa
là chỉ Thanh văn, Duyên giác, mà trong Kinh Pháp Hoa dùng xe dê,
xe nai và xe trâu trắng lớn để tỉ dụ.
Thanh
văn chỉ có thể tự độ, không thể độ người, như xe dê
không thể chở đồ. Duyên giác có thể độ mình và thân
thuộc, như xe nai chở được một ít đồ. Bồ tát tự độ
lại có thể phổ độ chúng sinh, như xe trâu trắng lớn có
thể chở mọi thứ hàng hóa. Phát tâm Đại thừa nói ở đây,
cũng chính là tâm Bồ tát độ khắp tất cả chúng sinh.
Tâm
Đại thừa bao hàm tâm Bồ đe? tâm đại bi và tâm phương
tiện. Tâm Bồ đề là hạt giống (nhân), tâm đại bi là gốc
rễ (bản), tâm phương tiện là hoa trái (cứu cánh). Một hành
giả Bồ tát phát tâm, nhất định phải có đủ ba tâm nói
trên, mới gọi là phát tâm Đại thừa.
Phát
tâm Bồ đề là phát tâm trên cầu Phật đạo. Nói Phật đạo,
là phải trải qua ba đại a tăng kỳ kiếp mới đạt được.
Không phát tâm Vô thượng Bồ đề, làm sao qua được sự
khảo nghiệm lâu xa như vậy? Kinh nói: Trong đời có một người
phát tâm Bồ đề, là có thêm một hạt giống thành Phật.
Học Phật không phát tâm Bồ đề, như thửa ruộng không gieo
giống, thì làm sao có ngày gặt hái? Tâm Bồ đề chính là
tâm thệ nguyện, có tâm thệ nguyện mới có thể thành tựu.
Phát tâm Bồ đề là phát bốn lời thệ nguyện rộng lớn
(tứ hoằng thệ nguyện):
Chúng
sinh vô biên, thệ nguyện độ
Phiền
não vô tận, thệ nguyện đoạn
Pháp
môn vô lượng, thệ nguyện học
Phật
đạo vô thượng, thệ nguyện thành.
Đây
chính là tâm Bồ đề của Đại thừa.
Phát
tâm Đại bi là phát tâm dưới độ chúng sinh. Bồ tát dưới
độ chúng sinh phải phát tâm đại từ vô duyên, đại bi đồng
thể, xem khổ nạn của chúng sinh là khổ nạn của mình, xem
niềm vui của chúng sinh là niềm vui của mình, độ chúng sinh
mà không mong cầu báo đáp, thấy việc phục vụ chúng sinh
là lẽ đương nhiên. Nguyện thay chúng sinh, chịu vô lượng
kho?mà Kinh này nói, chính là tâm đại bi của đại thừa.
Phát
tâm phương tiện là phát tâm thực hành bốn nhiếp pháp. Chúng
sinh căn tánh bất đồng, muốn giải cứu đau khổ cho chúng
sinh, cần phải có nhiều phương tiện khéo léo. Đức Phật
từng quán sát căn tánh chúng sinh mà tùy duyên thuyết Pháp,
nói ra bốn muôn tám ngàn Pháp môn. Đây chính là đức Phật
có phương tiện độ sinh.
Bồ
tát thực hành bốn cách nhiếp hóa (tứ nhiếp pháp): Bố thí,
ái ngữ, lợi hành, đồng sư, để khiến các chúng sinh, được
đại an lạc. Đây chính là tâm phương tiện.
Bao
gồm cả ba tâm: tâm Bồ đề, tâm đại bi, tâm phương tiện,
đó chính là tâm Đại thừa. Phát tâm Đại thừa cứu độ
chúng sinh, cần phải làm được chuyện khó làm, nhẫn được
việc khó nhẫn. Nếu không, tâm Đại thừa không dễ gì phát
khởi.
Thuở
quá khứ, Xá Lợi Phất khi còn ở nhân địa tu tập chuyển
từ Tiểu thừa lên Đại thừa, sắp chứng vào bậc Thất
địa Bồ tát bất thoái, thì có vị trời muốn đến thử
tâm Đại thừa của Ngài. Vị trời ấy hóa là một người
con hiếu, đang ngồi than khóc bên đường. Xá Lợi Phất đi
ngang trông thấy hỏi:
- Xin
hỏi sao lại ngồi ở đây mà khóc? Có chuyện gì xảy ra vậy?
- Không
liên can gì đến Ngài, xin để cho tôi yên.
- Hãy
nói cho tôi biết, tôi là đệ tử Phật thương yêu giúp đỡ
mọi người. Ông có điều gì khó khăn, xin nói ra tôi sẽ
giúp.
- Việc
của tôi tôi sợ Ngài không giúp được!
- Ông
hãy nói cho tôi nghe xem!
Xá
Lợi Phất giục.
Lúc
đó vị ấy mới than thở:
- Mẹ
tôi chẳng may bị mắc chứng bệnh nan y. Thầy thuốc bảo
phải dùng mắt người sống hòa với thuốc uống mới hết.
Nhưng người này phải là bậc Thánh tu hành! Ngài nghĩ xem,
mắt người sống đã là khó kiếm, lại cón phải là mắt
của bậc Thánh tu hành thì kiếm đâu ra? Nghĩ đến mẹ tôi
không cách nào cứu được, nhất định phải chết, nên tôi
đau lòng than khóc.
Nghe
xong, Xá Lợi Phất mỉm cười, từ hòa nói với người ấy:
- Được
rồi, ông cứ an tâm, tôi sẽ giúp cho!
- Thật
ư?
- Không
sai chút nào! Nói cho ông biết, tôi là người đã chứng quả,
đã phát tâm Đại thừa đem những vật ngoài thân ra thí cho
chúng sinh. Nay có cơ hội đem vật trong thân ra cho chúng sinh,
xin ông hãy móc mắt tôi!
Nói
xong, Xá Lợi Phất điềm nhiên đứng cho người kia móc mắt.
Song người đó xua tay bảo:
- Làm
như vậy không được! Tôi không dám móc mắt Ngài, vì đây
là việc làm phạm pháp. Nếu ông hoan hỷ cứu mạng mẹ tôi,
xin hãy tự móc mắt lấy!
Xá
lợi Phất nghe nói có lý, liền tự tay móc mắt bên trái ra,
ráng chịu đựng cơn đau nói với người ấy:
- Ông
hãy cầm lấy, cầu nguyện mẹ ông sớm bình phục.
Nhưng
người kia cũng lại xua tay nói:
- Thầy
thuốc bảo phải con mắt bên phải mới được! Con mắt bên
trái của Ngài tôi đâu có cần?
Xá
Lợi Phất nghe xong, giật mình thất sắc, nghĩ bụng:
- Thật
là không may! Con mắt bên trái đã móc ra rồi, còn lại con
bên phải để nhìn, nay biết làm sao?
Ông
tự trách mình sao vô ý, không hỏi trước cần con bên nào!
Kế đó, Xá Lợi Phất lại nghĩ: Các bậc thánh xưa tu học
Bồ tát đạo, phát tâm Đại thừa, trải qua nhiều đời nhiều
kiếp xả bỏ đầu mắt tủy não bố thí cho chúng sinh. Ta
nay sao lại không làm được? Cứu người phải tới nơi tới
chốn. Con mắt bên trái không dùng được, thì cho con mắt
bên phải.
Suy
nghĩ như vậy xong, Ngài bèn dũng mãnh móc con mắt phải ra
cho người kia. Nhưng người ấy cầm lấy con mắt đưa lên
mũi ngửi, liền quăng xuống đất, lấy chân chà đạp lên,
mắng rằng:
- Ông
là bậc thánh gì mà tròng mắt lại hôi tanh như vậy? Đâu
có thể đem làm thuốc để trị bệnh cho mẹ tôi!
Xá
Lợi Phất lúc ấy tuy mù, nhưng tai vẫn nghe biết người đó
quăng mắt mình xuống đất rồi chà đạp lên, lại nghe lời
mắng chửi nên nản lòng, suy nghĩ: Ông cần con mắt người
sống là thứ không thể tìm được. Tôi vì phát tâm Đại
thừa, phổ độ chúng sinh nên móc mắt cho ông. Thế mà mắt
bên trái ông nói vô dụng, mắt bên phải ông chê tanh hôi,
tôi có gì lầm lỗi với ông mà ông lại mắng tôi!
Xá
Lợi Phất lúc ấy không còn lòng nào nghĩ chuyện cứu độ
chúng sinh, vô cùng chán nản, cảm thấy chúng sinh khó độ,
nên không phát tâm Đại thừa nữa.
Đây
là một đoạn đường trải qua của Xá Lợi Phất khi ở nhân
địa tu hành trong thuở quá khứ.
Qua
đó ta có thể thấy, tâm Đại thừa thật khó phát vô cùng.
Song chúng ta không nên sợ khó. Do chúng ta có quan niệm phân
biệt đối đãi giữa mình và chúng sinh, nên không có tâm
đại bi đồng thể. Nếu chúng ta có thể lìa được bốn
tướng: ngã, nhân, chúng sinh, thọ gia như Kinh Kim Cang nói,
thì tâm Đại thừa phổ độ chúng sinh sẽ phát khởi.
Muốn
thực hiện hạnh lợi tha, phải có tinh thần dũng mãnh, xông
pha vào chốn dầu sôi lửa bỏng, hoan hỷ nguyện thay chúng
sinh chịu vô lượng khổ. Được như vậy, mới là hành giả
Bồ tát Đại thừa. Đức Phật khi mới xuất gia đã phát
bốn thệ nguyện:
1.
Nguyện cứu khổ ách cho chúng sinh.
2.
Nguyện trừ hoặc chướng cho chúng sinh
3.
Nguyện đoạn tà kiến cho chúng sinh.
4.
Nguyện độ chúng sinh khỏi vòng sinh tử.
Bốn
tâm nguyện này, cũng chính là tâm Đại thừa của Bồ tát.
Kinh
Hoa Nghiêm nói:
Không
cầu an lạc cho riêng mình
Chỉ
nguyện chúng sinh được hết khổ.
Đây
là tâm Đại thừa độ khắp tất cả chúng sinh của Bồ tát.
Như Bồ tát Văn Thù thì đại trí, Bồ tát Phổ Hiền thì
đại hạnh, Bồ tát Quan Âm thì đại bi, Bồ tát Địa Tạng
thì đại nguyện, đây đều là những nhân vật đại biểu
sự phát tâm Đại thừa, đáng cho chúng ta noi theo.
Tóm
lại, chỉ mong riêng mình khỏi khổ, là hạng người bình
thường (đương nhiên cũng có người vì căn tánh hạ liệt
không mong thoát khổ, thích ngồi trong lao ngục); mong người
khác thoát khổ, là hạng người có tâm thiện lớn; mong thay
thế chúng sinh chịu khổ, đây là hàng Bồ tát phát tâm Đại
thừa. Những bậc Bồ tát phát tâm Đại thừa như Bồ tát
Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Địa Tạng đều có thể khiến
các chúng sinh, được đại an lạc nơi Niết bàn thanh tịnh
giải thoát.
Dịch
Thơ:
Điều
thứ tám nhớ ghi giác biết
Lửa
tử sinh muôn kiếp đốt thiêu
Chúng
sinh khổ não đủ điều
Xưa
nay không biết bao nhiêu đọa đày.
Phát
tâm lớn chịu thay đau khổ
Hạnh
Đại thừa rộng độ quần sinh
Khiến
cho tất cả hữu tình
Đồng
lên bờ giác thanh bình an vui.
Phật thuyết
Kinh Tám Điều Giác Ngộ
Sa
môn An Thế Cao dịch từ Phạn sang Hán.
Thích
Minh Quang dịch từ Hán sang Việt.
Người
con Phật phát tâm học đạo
Luôn
ngày đêm y giáo phụng hành
Đại
nhân giác ngộ đành rành
Tám
điều ghi nhớ, chí thành niệm tu.
Điều
thứ nhất tâm luôn giác biết
Cõi
thế gian quả thiệt vô thường
Đổi
dời sinh tử tang thương
Cõi
nước tuy lớn cũng dường mỏng manh!
Thân
tứ đại sinh thành tử hoại
Già
bệnh đeo khổ ải, giả không
Hòa
hợp năm ấm lửa vòng
Chỉ
là ảo ảnh, ngã không thể tìm.
Thế
mới biết thế gian hư huyễn
Diệt
lại sinh biến chuyển vô thường
Chúng
sinh mê đắm chấp nương
Vô
ngã chấp ngã vào đường khổ đau.
Tâm
là cội nguồn bao nghiệp ác
Thân
nghe theo tạo tác tội khiên
Xuống
lên sinh tử triền miên
Tội
kia đầy dẫy như miền rừng hoang.
Người
con Phật phải toan quán sát
Đạo
lý này bao quát đường tu
Đó
là thiền quán công phu
Dứt
mê, chuyển nghiệp, khỏi tù tử sinh.
Điều
thứ hai phải nên giác ngộ
Ham
muốn nhiều, lụy khổ càng sâu
Nhọc
nhằn sinh tử bấy lâu
Đều
do tham dục dẫn đầu gây nên.
Tâm
ít muốn, giữ bền đạo nghiệp
Hạnh
vô vi, không tiếp nghiệp duyên
Tự
nhiên sẽ hết não phiền
An
vui tự tại giữa miền nhân gian.
Điều
thứ ba biết tâm giong ruổi
Luôn
tìm cầu, đeo đuổi chẳng nhàm
Không
sao thỏa được lòng tham
Tội
kia theo đó, càng làm càng sâu
Bậc
Bồ tát vô cầu, biết đủ
Vui
phận nghèo, qui củ tu hành
Trau
dồi tuệ nghiệp lợi sanh
Vung
gươm trí tuệ, cắt mành vô minh.
Điều
thứ tư phải luôn ghi nhớ
Lười
biếng làm lỡ dở đạo tâm
Quen
theo thói tục lạc lầm
Đắm
mê sa đọa trong hầm khổ đau.
Nên
thường phải dồi trau tinh tấn
Dũng
mãnh tu phá những não phiền
Bốn
ma hàng phục bình yên
Khỏi
ngục ấm giới về miền chân như.
Điều
thứ năm nằm lòng giác biết
Vì
ngu si muôn kiếp tử sanh
Bồ
tát phát nguyện tu hành
Nghe
nhiều học rộng Pháp lành Như Lai
Đặng
tăng trưởng gia tài trí tuệ
Và
tựu thành xuất thế biện tài
Giảng
Kinh giáo hóa muôn loài
Cho
niềm vui lớn, ai ai Niết bàn.
Điều
thứ sáu phải nên giác ngộ
Nghèo
khổ nhiều tật đố trách phiền
Thường
gây lắm việc oan khiên
Ngang
nhiên kết buộc ác duyên với người!
Bậc
Bồ tát độ đời bố thí
Bình
đẳng tâm không nghĩ oán thân
Càng
thương những kẻ ác nhân
Khoan
dung hỉ xả những phần lỗi xưa.
Điều
thứ bảy nhớ ghi giác biết
Ngũ
dục là muôn kiếp họa tai
Thân
tuy ở tục qua ngày
Tâm
không đắm nhiễm trần ai thói đời.
Thường
nhớ nghĩ ba y, bình bát
Tiêu
biểu cho Bồ tát xuất gia
Chí
mong sớm được xa nhà
Sống
đời giải thoát an hòa thanh cao.
Lập
nguyện lớn cầu Vô thượng đạo
Hạnh
kiên trì hoài bão độ sanh
Dù
bao chướng ngại tu hành
Vẫn
không lay chuyển hạnh lành từ bi!
Điều
thứ tám nhớ ghi giác biết
Lửa
tử sinh muôn kiếp đốt thiêu
Chúng
sinh khổ não đủ điều
Xưa
nay không biết bao nhiêu đọa đày.
Phát
tâm lớn chịu thay đau khổ
Hạnh
Đại thừa rộng độ quần sinh
Khiến
cho tất cả hữu tình
Đồng
lên bờ giác thanh bình an vui.
Phật
Bồ tát tám điều giác ngộ
Từng
y theo tự độ, độ tha
Ta
noi gương đấng Phật đà
Phát
tâm tinh tấn: Đạo xa, thực hành
Vung
gươm tuệ cắt mành si ám
Rải
mưa bi, dập đám lửa phiền
Pháp
thân nương lấy con thuyền
Niết
bàn, giải thoát bình yên lên bờ.
Thấy
đau khổ, lòng từ không nỡ
Thừa
nguyện xưa, thuyền trở bến mê
Lại
dùng tám việc đề huề
Dạy
cho sinh chúng quay về bờ kia.
Biết
giác ngộ, xa lìa ngũ dục
Thấy
tử sinh là ngục khổ đau
Tu
tâm quyét sạch trần lao
Theo
đường Thánh đạo, cùng nhau Niết bàn.
Đệ
tử Phật tụng trì tám việc
Niệm
niệm luôn tội diệt phước sanh.
Bồ
đề Chánh giác sớm thành
An
vui thường trú, tử sanh không còn.
Nam
mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
-
Hết -
(Tu
Viện Quảng Đức)
Đọc
thêm:
Kinh
Bát Đại Nhân Giác, HT. Thích Nhất Hạnh Việt dịch
Kinh
Bát Ðại Nhân Giác Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Kinh
Bát Đại Nhân Giác, TT. Thích Thiện Huệ
02-15-2007
11:34:56