MỤC
LỤC
DANH
XƯNG BỐN BỘ A-HÀM
(ÀGAMA
– A-cấp-ma)
Luận
Du-già-sư-địa, cuốn 85 (Đại tạng số 30. 772), nói:
"Sự
khế kinh (hình thức khế kinh) là bốn A-cấp-ma (Agama). Một
là Tạp A-cấp-ma, hai là Trung A-cấp-ma, ba là Trường A-cấp-ma,
bốn là Tăng Nhất A-cấp-ma.
Tạp
A-cấp-ma là, ở trong đó Đức Thế Tôn xem xét căn cơ của
người được giáo hóa để tuyên thuyết giáo pháp tương
ứng được Như Lai và các đệ tử nói. Giáo pháp Uẩn, Giới,
Xứ tương ưng; giáo pháp Duyên khởi, Tứ thực, Tứ đế tương
ưng, giáo pháp Tứ niệm trụ, Tứ chánh cần, Tứ thần túc,
Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát Chánh Đạo, Nhập xuất
tức niệm, Học tịnh chứng tương ưng, v.v…
Lại
y theo tám chúng, nói các giáo pháp tương ứng với chúng. Về
sau người kết tập vì muốn Thánh giáo tồn tại lâu dài,
nên một phần kết tập thành các bài kệ tụng, rồi tùy
chỗ thích ứng mà thứ lớp an bố.
Nên
biết, tất cả giáo pháp tương ứng như thế, khái lược
do ba phương diện tương ứng nhau, đó là người năng thuyết,
pháp sở thuyết và người nghe được Phật và đệ tử vì
họ thuyết dạy (sở vị thuyết). Như hoặc Như Lai, hoặc
đệ tử Như Lai là người năng thuyết. Như những phần giáo
được Phật thuyết hoặc đệ tử thuyết, hoặc sở liễu
tri, hoặc năng liễu tri, đó là sở thuyết, như giáo pháp
Năm uẩn, Sáu xứ, Nhơn duyên tương ưng, và Đạo phẩm phần.
Như các chúng Tỷ-kheo, Thiên, Ma, v.v…, đó là sở vị thuyết;
như phẩm kết tập. Như vậy, nêu lên tất cả thô lược
năng thuyết, sở thuyết, sở vị thuyết, thành Tương ưng
giáo.
Chính
tất cả Tương ưng giáo kia, về hình thức tập họp lại
dài ngắn lẫn lộn phức tạp, thế nên gọi là Tạp A-cấp-ma.
Chính Tương ưng giáo kia lại được nói ở dạng trung bình,
thế nên gọi là Trung A-cấp-ma. Chính Tương ưng giáo kia được
nói ở dạng rộng dài, thế nên gọi là Trường A-cấp-ma.
Chính Tương ưng giáo kia, lại được nói ở dạng cứ tăng
dần từng số một lên đến hai, ba, v.v… Thế nên gọi là
Tăng Nhất A-cấp-ma.
Như
vậy, bốn thứ ấy được thầy trò lần lượt truyền lại
đến nay, thế nên gọi là A-cấp-ma".
Cứ
theo đoạn văn dẫn trên, ta thấy rõ danh xưng Tạp, Trung, Trường,
Tăng Nhất A-cấp-ma là xưng theo hình thức kinh được nói
dài hay ngắn chứ không phải xưng theo nội dung nghĩa lý của
kinh. Như Tạp A-hàm, thì ngoại trừ kinh số 604 nói về A-dục
dài đến 10 trang trong Đại tạng, còn lại hầu hết là kinh
ngắn, nhiều kinh chỉ có một, hai dòng, thậm chí vài câu.
Vì kinh dài ngắn xen lẫn nhau như vậy trong một bộ nên gọi
là Tạp. Trung A-cấp-ma thì kinh dài hơn các kinh ở Tạp A-cấp-ma,
song không dài hơn ở Trường A-cấp-ma. Kinh dài nhất ở Trung
A-cấp-ma là kinh số 71 dài 7 trang và kinh số 72 dài 6 trang
trong Đại tạng, song cũng không bằng Trường A-cấp-ma, có
kinh như kinh Đại Bổn dài 10 trang, kinh Du Hành dài 20 trang,
kinh Thế ký dài 22 trang trong Đại tạng.
Như
vậy, hoặc có thể nói cách khác là Tạp Thuyết A-cấp-ma
hay Đoản Thuyết A-cấp-ma, Trung thuyết A-cấp-ma, Trường Thuyết
A-cấp-ma, Tăng Nhất Thuyết A-cấp-ma.
Theo
đó, Bốn A-hàm lấy Tạp A-hàm kinh thuộc Tương ưng giáo làm
gốc. Tạp A-hàm là “Nhất thiết sự tương ưng giáo”, vì
vậy bốn A-hàm cũng được gọi chung là “Sự khế kinh”.
Nhưng
Sự là gì?
Luận
Du-già (của Bồ-Tát Di-Lặc tạo), cuốn ba, nói: “Lời dạy
của chư Phật gồm trong chín sự, đó là:
Hữu
tình sự
Thọ
dụng sự
Sanh
khởi sự
An
trú sự
Nhiễm
tịnh sự
Sai
biệt sự
Thuyết
giả sự
Sở
thuyết sự
Chúng
hội sự.
Hữu
tình sự là chỉ cho ngũ thủ uẩn; Thọ dụng sự là chỉ
cho mười hai xứ; Sanh khởi sự là chỉ cho mười hai duyên
khởi và duyên sanh; An trú sự là chỉ cho bốn thực (bốn
cách ăn); Nhiễm tịnh sự là chỉ cho bốn Thánh đế; Sai biệt
sự là chỉ cho vô lượng giới; Thuyết giả sự là chỉ cho
Phật và đệ tử Ngài; Sở thuyết sự là chỉ cho bốn niệm
trụ v.v… và Bồ-đề phận pháp; Chúng hội sự là chỉ cho
tám chúng đệ tử Phật.
Đó
là toàn bộ nội dung của kinh Tạp A-hàm hay là “Sự tương
ưng giáo”.
Nhiếp
sự phần trong Du-già luận, cuốn 58, gom chín sự này trong
ba loại lớn:
Năng
thuyết – chỉ Phật và đệ tử Phật.
Sở
thuyết – chỉ uẩn, giới, xứ, duyên khởi, thực đế, niệm
trụ, chứng tịnh…
Sở
vị thuyết – chỉ tám chúng đệ tử Phật.
Chín
sự hay ba loại lớn, đó là nội dung của kinh Tạp A-hàm,
và cũng có thể gọi đó là “Tu-đa-la” – “Sự khế kinh”.
TÔN
CHỈ Ý THÚ CỦA BỐN A-HÀM
Theo
luận “Tát-bà-đa Tỳ-ni-tỳ-bà-sa”, cuốn 1, của phái Thuyết
nhất thiết hữu, ghi: “Đức Phật vì chư Thiên và Người
đời theo thời cơ nói pháp, kết tập lại làm Tăng Nhất
A-hàm, đó là kinh cho người khuyến hóa học tập. Phật vì
chúng sanh lợi căn, nói các nghĩa thâm diệu, gọi là Trung
A-hàm; đó là kinh cho người học vấn học tập. Phật nói
các pháp Thiền định, gọi là Tạp A-hàm; đó là kinh cho người
tọa Thiền học tập. Phật phá các ngoại đạo, là Trường
A-hàm”.
Ngài
Phật Âm (Buddhaghosa) có sách chú thích bốn bộ A-hàm. Theo
tên sách chú thích, đã biểu hiện rõ đặc sắc của bốn
bộ A-hàm như sau:
Sách
chú thích Trường Bộ, tên “Sumàn Galaviàsini” (Tốt lành
thích ý).
Sách
chú thích Trung Bộ, tên “Papànca Sùdani” (Phá xích do dự).
Sách
chú thích Tương Ưng Bộ, tên “Sàratthapakàsini” (Hiển bày
chơn nghĩa).
Sách
chú thích Tăng Chi Bộ, tên “Manoratha Pùrani” (Mãn túc hy
cầu).
Ngài
Long Thọ (Nàgàrjuna) trong luận Đại Trí Độ, cuốn 1, có
nêu cách thuyết giáo theo bốn tất-đàn: “1) Thế giới tất-đàn;
2) Các vị nhân tất-đàn; 3) Đối trị tất-đàn; 4) Đệ nhất
nghĩa tất-đàn. Trong bốn tất-đàn tổng nhiếp mười hai
bộ kinh, 84.000 pháp tạng, đều là thật, không chống trái
nhau”.
Tất-đàn,
tiếng Phạn là “Siddhànta”, dịch nghĩa là thành tựu, tông,
lý. Bốn tất-đàn là bốn tôn chỉ, bốn đạo lý.
Bốn
tất-đàn có thể tổng nhiếp hết mười hai bộ kinh, 84.000
pháp tạng là thế nào?
Bốn
tất-đàn chỉ là dựa theo bốn tôn chỉ của bốn bộ A-hàm
mà nói. Bốn tất-đàn tương đương với bốn tên sách chú
thích bốn bộ của ngài Phật Âm.
- Sách
chú thích Trường Bộ với tên là Tốt lành thích ý – đó
là Thế giới tất-đàn (thuyết pháp phổ thông thích hợp
với quảng đại quần chúng). Như trong Trường A-hàm có các
kinh Xa-ni-sa, Đại Điển Tôn, Đại Hội, Phạm Thiên Sở Vấn,
A-tra-năng-để v.v…gồm những lời Phật dạy thích ứng với
tín ngưỡng thiên thần phổ thông của Ấn Độ. Trên mặt
tư tưởng, Trường A-hàm chủ yếu phá xích những tín ngưỡng,
tà kiến của dân chúng.
- Sách
chú thích Trung bộ với tên Phá xích do dự - đó là đối
trị tất-đàn (thuyết pháp đối trị riêng từng căn bịnh
của chúng sanh). Trong Trung A-hàm phân biệt quyết trạch để
đoạn nghi tình, trừ sạch hai mươi mốt thứ kiết sử…
Đó chính là ý nghĩa của sự đối trị.
- Sách
chú thích Tương Ưng Bộ với tên Hiển bày chơn nghĩa – đó
là Đệ nhất nghĩa tất-đàn (thuyết pháp về các nghĩa siêu
việt rốt ráo).
- Sách
chú thích Tăng Chi Bộ với tên Mãn túc hy cầu – đó là các
các vị nhân tất-đàn (thuyết pháp tán dương điều thiện,
khuyến khích thực hành việc tốt, thích ứng với các căn
tánh bất đồng, làm mãn túc mong cầu).
Trong
sách Ma ha Chỉ Quán, cuốn 1, của Ngài Thiên Thai Trí Giả,
giải thích bốn tất-đàn bằng bốn từ ngữ là tùy lạc
(vui thích), tùy nghi (thích nghi), tùy trị (đối trị), tùy
nghĩa (thắng nghĩa).
Tôn
chỉ của Phật pháp, cách giáo hóa của Phật pháp không ngoài
bốn thứ này. Mỗi một bộ A-hàm đều có đủ bốn tôn chỉ
đó, song phân biệt kỹ thì mỗi bộ có mỗi đặc sắc riêng
như trên đã nói.
Hòa
Thượng Thích Thiện Siêu
Kinh
Tạp A-hàm, 1995
-ooOoo-
Bài
Tựa Kinh Tăng Nhất A-hàm
Ý
nghĩa của bốn bộ A-hàm đồng với Trung A-hàm ở phần đầu
là nói rõ tôn chỉ, nên không lập lời tựa.
Tăng
Nhất A-hàm là so sánh sự mạch lạc của pháp rồi dùng số
mà xếp thứ tự. Số tận cùng là mười, thêm vào một, nên
gọi là Tăng Nhất. Mỗi pháp số tăng dần, nên lấy tăng
làm nghĩa. Pháp ấy phần lớn ghi chép về cấm luật để
làm mẫu mực nghiêm nhặt và là điều kiện kiểm định độ
đời. Ngoại quốc từ người ở núi đến người ở biển
phần nhiều thường tụng ngâm bốn bộ A-hàm này. Có vị
Sa-môn nước ngoài tên Đàm-ma-nan-đề, người nước Đâu-khư-lặc,
xuất gia từ bé, học rộng nghe nhiều, tụng hai bộ A-hàm,
ôn điều cũ để ngày càng mới, đi khắp các nước, không
nơi nào không qua. Đời Tần, niên hiệu Kiến Nguyên thứ hai
mươi, ngài đến Trường An, người nước ngoài đều hâm
mộ. Quan Thái Thú Vũ Oai là Triệu Văn Nghiệp yêu cầu ngài
đọc ra; ngài Phật Niệm dịch truyền; ngài Đàm Trung sửa
chữa. Mùa hạ năm Giáp thân bắt đầu, đến mùa xuân năm
sau thì xong, được bốn mươi mốt quyển, phân làm hai bộ
thượng, hạ. Bộ thượng gồm hai mươi sáu quyển trọn vẹn
không bị quên sót, bộ hạ mười lăm quyển, mất phần ghi
kệ. Tôi cùng với Pháp Hòa khảo chính lại; Tăng Lược, Tăng
Mậu phụ giúp xem xét những chỗ thiếu sót, bốn mươi ngày
thì xong. Năm này có trận đánh ở A Thành, tiếng trống gần
kề mà chúng tôi vẫn chuyên tâm trong việc này. Trọn đủ
hai bộ A-hàm là một trăm quyển.
Hai
ngài Tỳ-bà-sa và Tu-mật-tăng-già-la-đát truyền sang đây
(Trung Hoa) năm bộ kinh lớn. Từ khi Pháp truyền sang phương
Đông, hai ngài là người đọc kinh để dịch ưu việt hơn
hết. Bốn bộ A-hàm do bốn mươi vị cao đức biên tập, mười
vị tuyển chọn một bộ: bắt đầu từ đề mục và chấm
dứt bằng bài kệ. Sợ giáo pháp lưu truyền ở đời lâu
ngày bị thất lạc, thiếu sót, nên cõi này trước đây ghi
lại các kinh đành rành; trong số ấy nay có hai Bộ A-hàm,
mỗi mỗi viết lại một quyển mới, giữ trọn số mục cũ
của kinh, ghi chú về sự thêm thắt, mất mát của kinh, khiến
cho người đọc tìm thấy được sự sai khác.
Hai
bộ thượng hạ gồm có 472 kinh; phàm các vị học sĩ tuyển
chọn hai bộ A-hàm này, trong đó thường có những lời dạy
về luật, người nước ngoài không rõ, xem Sa-di và cư sĩ
cùng như nhau. Từ này về sau, mong rằng cùng giữ gìn điều
này như luật định! Đây chính là việc cấp thiết của nước
ta. Những lời dạy căn dặn đinh ninh của Đức Thế Tôn,
xin chớ nghe một cách sơ suất! Học rộng mà không biết gìn
giữ cấm giới là một tỳ vết trong sự thông suốt của
giới học sĩ. Khương Hạnh Tường dịch kinh Trung Bản Khởi,
dịch luôn phẩm Đại Ái Đạo trong đó mà không biết đó
là kinh cấm, là phép của Tỳ-kheo-ni, rất cần phải cắt
bỏ đi. Đây là một sự thô lậu lớn, đáng đau xót vậy.
Hai
bộ kinh này, bậc đạo sĩ hữu lực mới có thể xem, cần
phải để tâm. Còn như người khinh thường không để ý,
mong các vị đồng chí với tôi kêu gọi sửa đổi điều
này!
Đời
Tấn
Sa-môn
Thích Đạo An viết
Hòa
Thượng Thích Thanh Từ dịch Việt, 1997
Source:
http://www.budsas.org/uni/index.htm