MỤC
LỤC
Thay
lời tựa
1.
Huyền luận Kinh Thắng Man
2.
I. Phần Tự
3.
II.Phần Chánh tông
4.
II. Phần Chánh tông (tiếp theo)
5.
Phần Chú thích
THAY LỜI TỰA
Đường
đến Phật quả có muôn ngàn ngả. Bởi chúng sanh căn tánh
bất đồng, nên Phật theo đó mà mở ra vô lượng pháp môn
không giống nhau: Ngũ thừa, tam thừa, nhất thừa. Chẳng khác
nào nhân loại thân bệnh có lắm chứng khác biệt, nên y khoa
theo đó chế nhiều thứ thuốc khác nhau. Phật dạy pháp môn
phương tiện tuy có khác, nhưng cùng chung mục đích là trị
bệnh, đưa chúng sanh đến bến bờ giác ngộ, đạt đạo
Vô thượng Bồ đề, ấy là Phật quả.
Đức
Phật nói: “ Nước trong bốn biển chỉ có một vị, ấy
là vị mặn. Cũng như thế đó, giáo pháp của ta tuy có muôn
ngàn phương tiện pháp môn, nhưng duy nhất chỉ có một vị,
đó là hương vị giải thoát”. Sự hiện diện của Đức
Phật ở đời không ngoài mục đích làm lợi cho chúng sanh
“ khai thị ngộ nhập tri kiến Phật”. Sau khi giác ngộ dưới
cây Bồ đề cũng như trước khi vào Niết bàn, Ngài nói: “
Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều sẽ thành Phật
như ta”.
Lời
nói của Đức Phật quả là chân lý bất diệt, giá trị tuyệt
vời muôn đời đối với những người có tâm chí hướng
thượng trên đường thánh thiện giải thoát. Trước khi Phật
ra đời cũng như sau khi Ngài nhập Niết bàn và mãi đến ngày
nay, thời gian đã trải qua gần ba ngàn năm lịch sử, vẫn
chưa thấy có vị Giáo chủ của bất cứ tôn giáo nào có
tư tưởng cách mạng “từ bi, bình đẳng, giác ngộ” toàn
triệt, nhằm đưa con người thăng tiến đến quả vị tự
tại giải thoát cùng tột như vậy.
Lời
nói của Đức Phật đã thể hiện ngay khi Ngài còn hiện đời.
Ấy là những ai, bất lưận ở vào hạng nào, dù đó là ngoại
đạo, ác nhơn, tà kiến, bần tiện, ngu dốt. v.v…, nếu biết
hồi tâm theo lời Phật dạy mà hành trì thì đều được
an lạc chứng thánh. Những người chứng thánh nổi bật trong
muôn ngàn người, về nam phái như các Tôn giả Xá Lợi Phất,
Mục Kiền Liên, Ca Chiên Diên, Át Bệ, Đại Ca Diếp, A Nan,
La Hầu La v.v…Về nữ phái như Ma Ha Ba Xà Ba Đề, Da Du Đà
La, Hoa Sắc Tỳ kheo v.v…Những người như vậy số lượng
đến vạn thiên. Thậm chí những kẻ ác tâm như Đề Bà Đạt
Đa hại Phật, thái tử A Xà Thế giết cha hại mẹ, chàng
Vô Não nghe lời ngoại đạo giết người lấy đủ 100 ngón
tay, cô gái giả bụng chửa vu oan Phật, kẻ ngoại đạo mắng
Phật, nàng Ma Đăng Già hại A Nan v.v…cuối cùng tất cả
đều được Phật độ. Thử hỏi trên đời còn ai thể hiện
tinh thần từ bi bình đẳng hơn?!
Sau
khi Phật nhập Niết bàn và mãi cho đến ngày nay, thế hệ
này cho đến thế hệ khác lớp lớp tiếp nối nhau, trong số
đó không phải chỉ có những người hiền đức thôi, mà
cả đến những kẻ suốt đời chỉ biết lấy việc kiếm
cung chinh phạt làm vui, vậy mà khi về với đạo Phật, họ
đều trở nên những bậc nhân từ hiền lương quân tử,
làm lợi ích cho đời. Như vua A Dục, Đường Thế Tông, Võ
Tắc Thiên, Lương Võ Đế, Thánh Đức thái tử của Nhật
Bản. Và rõ ràng nhất là những vị vua và hoàng hậu của
cả hai triệu đại Lý, Trần Việt Nam đã nêu gương hiền
đức sáng ngời, tạo thành một thời thạnh trị huy hoàng
lâu dài cho dân tộc xứ sở. Những vị lược nêu trên đều
tiếp nhận ảnh hưởng giáo pháp của Đức Phật. Họ đã
thắp sáng lên ngọn lửa từ bi bình đẳng hùng lực vô tiền
khoáng hậu trong lịch sử nhân loại và dân tộc.
Suốt
bốn mươi chín năm trời, Đức Phật hiến trọn đời mình
cho lý tưởng vị tha, giáo hóa độ sanh, không điều gì ẩn
tàng uẩn khúc thẳm sâu của cuộc đời, về tâm thức chi
phối dòng sanh mệnh muôn loài, mà Ngài không cặn kẽ giảng
nói. Ngài đã giảng giải rõ ràng cội nguồn nhân sanh khổ
lụy, cảnh sống bất an, nhân loại thiếu hạnh phúc chân
thật, để rồi từ đó Ngài đưa ra những phương pháp giải
khổ, đồng thời thống thiết kêu gọi chúng sanh nên khắc
phục dục tình tham vọng, để tự cứu mình cứu người ra
khỏi cảnh đời mộng huyễn tăm tối trầm luân, hầu xây
dựng cuộc sống an lành sáng sủa. Thực tế cho vấn đề
giải khổ là biết đem lời Phật dạy áp dụng vào đời
sống. Nhân lọai đã khéo léo biết dùng sản phẩm của văn
minh khoa học để trị liệu tô điểm vóc thể. Nhưng nhân
loại đã đủ thông minh biết dùng giáo lý đạo Phật là
phương thuốc thần diệu để trị liệu tô điểm tâm thần
mình chưa? Nếu hằng ngày con người biết dùng thời gian và
lưu tâm trang điểm sửa soạn thân thể, thì nhân loại đã
tiến bộ hạnh phúc và cuộc đời này sớm đã không còn
phiền lụy khốn đốn khổ đau.
Tinh
thần từ bi, trí tuệ, bình đẳng, giác ngộ giải thoát được
thể hiện trong Kinh Thắng Man này. Thắng Man phu nhơn là người
nữ, do đã tu nhiều đời và nhờ thần lực của Phật gia
hộ mà nói lên tư tưởng Đại thừa nhất phương tiện được
gói gọn trong kinh này. Bà còn được Phật thọ ký sẽ thành
Phật trong tương lai. Điều này khiến cho ta liên tưởng đến
Long Nữ trong Kinh Pháp Hoa, Thiện Tài Đồng tử trong Kinh Hoa
Nghiêm thể hiện tinh thần bình đẳng tuyệt vời như lời
Phật nói: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều
sẽ thành Phật”, nếu biết áp dụng lời của Ngài vào đời
sống của mỗi chúng sanh thì nhất định được thanh thoát
quang minh, tương lai sẽ đắc thành thánh quả. Phật đã
xác quyết: “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ
thành, nếu biết thực hành theo giáo pháp của ta”.
Tên
kinh đây nói cho đủ là “ Kinh Thắng Man Sư Tử Hống Nhất
Thừa Đại Phương Tiện Phương Quảng”. Nay lược xưng là
“ Kinh Thắng Man Nhất Thừa Đại Phương Tiện”.
Nội
dung kinh này thuyết minh về Như lai tạng, quả đức của Phật.
Nói rõ hành giả đoạn trừ phiền não nào, để chứng đắc
Nhị
thừa quả; đoạn sạch hoặc nghiệp gì, để chứng đạt
Vô thượng Bồ đề. Kinh đây còn hàm nhiếp tư tưởng nhất
thừa phương tiện của Kinh Pháp Hoa; Như Lai tạng là chỗ
sở y của sanh tử và Niết bàn; phát nguyện thọ giới của
Kinh Bồ Tát Bổn Nguyện Anh Lạc v.v…
Tỳ
kheo quê mùa tôi, Thích Đức Niệm, y giảng giải của Ấn
Thuận đạo sư, không ngại tài hèn đức mọn văn nghĩa thô
lậu của mình, đem tâm thành nguyện dịch kinh này ra Việt
văn không ngoài mục đích góp phần nhỏ vào kho tàng văn hóa
Phật giáo nước nhà, với ước vọng kết duyên Bồ đề
cùng người thiện tâm gần xa, để cùng phát tâm tiến bước
trên đường giác ngộ giải thoát.
Kính
lạy thập phương chư Phật từ bi gia hộ cho con mãn nguyện
ước mong trong khi dịch được sáng suốt không sai tôn ý Phật.
Rất mong chư Tôn đức, thức giả mẫn niệm chỉ giáo bổ
chánh cho. Rất mong thay!
Vu
Lan năm Canh Ngọ 1990
THÍCH
ĐỨC NIỆM