Tựa
Đức
Phật dạy: Ai muốn tin Ta, làm đệ tử Ta, cần phải
đủ trí quán sát, mới tin; không rõ nguyên nhân Ta, mà tin
Ta ấy là phỉ báng Ta. Ý câu này, Ngài bảo đệ tử
của Ngài, ai muốn tu, muốn hành theo hạnh Ngài thì phải rõ
các hành vi của ngài. Nghĩa là: xét rõ nguyên nhân của Ngài,
sẽ tin và làm theo, chớ đừng làm càn, tin bướng thì khác
nào không phải lương y mà giả xưng là lương y, cách đó
rất tai hại.
Chúng
ta nên biết: "Bồ Tát thị hiện phàm phu, chính phàm phú
đó là hóa thân Bồ tát; còn phàm phu giả xưng Bồ tát thì
Bồ tát ấy là Bồ tát của phàm phu". Nếu đem tâm phàm
phu đó hành xử thì chỉ chuốc lấy phiền não khổ đau.
- Không
rõ nguyên nhân mà cứ tin Ngài là tin theo lối mê tín.
- Tưởng
Ngài là một vị Thần Thánh u u minh minh, linh linh hiển hiển,
có quyền ban phước hay giáng họa là tin theo lối dị đoan.
- Tin
Ngài, thờ phụng Ngài, sau khi chết được Ngài đem về cõi
Cực Lạc, mà không biết Ngài là người chi, không rõ nguyên
nhân Ngài đã làm những gì, ấy là tin theo lối thần quyền.
Như
vậy, muốn tin một cách chính đáng "chánh tín" - Là một Phật
tử chơn chánh không nên tin vào thần quyền, dị đoan và mê
tín như trên; mà cần phải học hỏi nghiên cứu giáo lý Phật
Đà một cách tường tận rồi mới tin và làm theo.
Chúng
ta học Kinh này nên có sự suy gẫm "Chánh tư duy"; càng đọc
sâu càng thấy rõ trong đó có rất nhiều nguyên nhân và sự
tích. Vậy các tín đồ Phật giáo tin Phật bằng cách nào,
Đức Thế tôn đã dạy đầy đủ trong quyển Kinh này.
Nam
mô Bổn sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật
Dịch
giả CẨN CHÍ
LỜI
NÓI ĐẦU
Kinh
Hoa Nghiêm, Phật dạy: "Nếu người muốn rõ biết hết thảy
Phật ba đời, hãy nghiệm trong Pháp giới tánh, tất Duy Tâm
tạo"
Luận:
Duy tâm tịch tịch biến khắp mười phương, Pháp tánh như
như viên dung một trí mầu, ứng nơi cảnh sắc thinh, lưu lộ
chiếu trong tầm mắt
Tựu
trung: Phản vọng quy chơn. Trực hạ: Bội trần hiệp giác.
Pháp mầu của Tâm như vậy, muốn khiến chúng sanh ngộ nhập.
Ôi!
Căn cơ đã chẳng một, pháp lập có nhiều môn: Hoặc Kinh
"Tu Đa La", hoặc kệ "Dà Đà", Kinh "Bổn Sự", kinh "Bổn Sanh",
kinh Vị Tằng Hữu cũng nói Nhơn Duyên và lời ví dụ với
Kinh Kỳ Dạ, Ưu Bà Đề Xá Kinh.
Chính
bộ Kinh của Ta đây, tùy thuận chúng sanh mà nói, Ta lập phương
tiện đây khiến đặng vào HUỆ PHẬT. Đây là từ đầu chí
cuối, Ta chỉ vì một đại sự nhân duyên, mà xuất hiện
ra đời.
Riêng
Kinh này nhan đề: "Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên". Vì sao?
Bởi do Phật vì độ ông La Hầu La xuất gia. Nên trong hội
này nhơn Thiên được nghe Pháp chưa từng có.
Cho
nên tên Kinh "Vị Tằng hữu Thuyết Nhân Duyên".
Song chẳng những kinh này tên là "Vị Tằng Hữu" mà vô lượng
pháp môn của Phật nói ra cũng lại như vậy.
Cho
nên: Hôm nay trong hội hiệp khắc Kinh này làm mối đầu, kính
in Pháp Bảo vô lượng bất khả tư nghì, ấn tống cả thế
giới bất khả tư nghì, rộng ích chúng sanh bất khả tư nghì.
Nguyên
Kinh này: Trong Năm thời, Tám giáo: Nói Đốn giáo cũng được.
Nói Tiệm giáo cũng được. Nói Bất định giáo cũng được.
Nói Bí mật giáo cũng được. Vì sao? Do vì đủ nhân duyên
nói bốn món "Tất Đàn"; như nói:
1.
Chúng sanh nghe pháp môn này hoặc đặng lợi ích hoan hỷ, ấy
là thế giới Tất Đàn
2.
Hoặc là đặng lợi ích sanh thiện là vị nhơn Tất Đàn
3.
Hoặc đặng lợi ích biệt ác, là đối trị Tất Đàn.
4.
Hoặc đặng lợi ích nhập chánh lý, ấy đệ Nhất nghĩa Tất
Đàn; Bốn hóa PHÁP và bốn Hóa NGHI như vậy, dung nhiếp khó
nghĩ bàn. Cho nên nói:
"Phật
giáo môn, diệc phục như thị".
Kinh
Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên: thượng, hạ, hai quyển.
KHAI
KỆ KINH
Pháp
mầu Vô thượng rất thẳm sâu
Trăm
nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Con
nay nghe thấy chuyên trì niệm
Nguyện
tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
ĐỨC
PHẬT THÍCH CA
NÓI
KINH NHÂN DUYÊN CHƯA TỪNG CÓ
QUYỂN
TRƯỚC
Đời
Tiêu Tề, Ngài Tam Tạng Sa môn THÍCH ĐÀM CẢNH dịch
Đây
là lời của ngài A Nan thuật:
Ta
nghe như vầy: Một thuở nọ Phật ở nước Xá Vệ, rừng
cây của Thái tử Kỳ Đà, vườn ông Cấp Cô Độc.
PHẦN
THÔNG TỰ
Khi
bấy giờ, Đức Thế tôn bảo đệ tử lớn của Ngài là ông
Mục Kiền Liên rằng: Nay ngươi hãy trở về thành Ca Tỳ La
kia hỏi thăm Phụ vương Ta là vua Duyệt Đầu Đàn cùng di
mẫu Ta là bà Ba Xà Ba Đề và ba vị Hoàng thúc Ta là vua Học
Phạn v.v... Nhân dịp này lại an ủi giùm thân mẫu của La
Hầu La là bà Da Du Đà La, bảo nàng nên dứt tình mẫu tử
để cho La Hầu La đi làm Sa-di, tu tập theo Thánh đạo. Vì
sao?
Vì
tình ân ái của mẹ con chỉ vui trong giây phút, chết rồi
vào địa ngục. Mẹ con đều không thấy nhau, mù mù mịt mịt
biệt ly dài dặn, chịu khổ muôn phần, sau rồi ăn năn không
kịp; chi bằng cho La Hầu La đi tu đắc đạo, sẽ trở về
độ mẹ, hằng dứt hẳn cội gốc Sanh, Già, Bệnh, Chết,
được đến quả Niết bàn như Ta nay vậy
Bấy
giờ, Mục Liên vâng mệnh liền nhập định ít như trang lực
sĩ trong khi co duỗi cánh tay, đã đến thành Ca Tỳ La, đến
chỗ vua Tịnh Phạn thưa rằng: "Tâu Đại vương! Đức Thế
tôn ân cần không xiết, hỏi thăm đức Vua ở nhà có được
yên ổn không? Và sức lực có được mạnh khỏe không?".
Và bà đại Phu nhân Ba Xà Ba Đề, cùng ba vị thúc phụ là
vua Học Phạn v.v... cũng lại thăm hỏi yên ổn mạnh khỏe
như thế.
Bấy
giờ, nàng Da Du Đà La vừa nghe tin Phật sai sứ đến chỗ
vua, song nàng chưa biết có ý gì, nên nàng liền sai quan thanh
y đi dọ tin tức. Quan thanh y đi rồi trở về thưa lại rằng:
"Thưa bà! Đức Thế tôn sai sứ về rước Thái tử La Hầu
La độ đi làm Sa-di". Bà Da Du Đà La nghe được tin ấy rồi
bèn đem Thái tử La Hầu La lên trên lầu cao và dặn bảo vị
Giám quan đóng hết các cửa cho thật chắc chắn.
Lúc
ấy, ngài Mục Liên đã đến cửa cung nhưng không thể vào
đặng mà cũng không có người để thông tin. Ngài liền dùng
sức thần thông bay lên lầu cao đến trước chỗ ngồi của
bà Da Du Đà La mà đứng. Bà Da Du Đà La vừa thấy ngài Mục
Liên đến thì nửa sợ nửa mừng, túng thế phải đứng dậy
cung kính làm lễ hỏi thăm: "Thưa Ngài! Ngài đi đường xa
có được khỏi sự mệt nhọc hay không?". Rồi bà sai người
sửa soạn chỗ thỉnh ngài Mục Liên và bà lại hỏi thăm
ngài Mục Liên rằng: "Thưa Ngài, Đức Thế tôn có được
mạnh khỏe chăng? Và về việc giáo hóa chúng sanh có khỏi
mệt nhọc không? Lại hôm nay sai thượng nhơn về đến đây
có việc gì?" Đức Mục Liên thưa rằng: "Thưa bà! Thái tử
La Hầu đã được chín tuổi rất nên cho đi xuất gia tu học
Đạo Thánh. Sở dĩ vì sao?
Vì
tình ân ái của mẹ với con vừa ý chẳng có bao lâu, một
mai mà thân mạng chết rồi phải bị đọa vào ba đường
ác. Tình ân ái biệt ly mờ mờ mịt mịt thì chừng đó mẹ
nào có biết con, con nào có biết mẹ. Chi bằng La Hầu tu đắc
đạo sẽ trở về độ mẹ hằng xa lìa các sự ưu hoạn là:
Sanh, Già, Bệnh, Chết. Mà được đến cõi niết bàn như Đức
Thế tôn hôm nay vậy".
Bấy
giờ, bà Da Du Đà La đáp lại lời của ngài Mục Liên rằng:
"Thưa Ngài! Phật Thích Ca Như Lai khi còn làm Thái tử cưới
tôi làm vợ. Tôi hầu hạ Ngài như hầu hạ Thiên Thần, chưa
từng có điều chi sơ sót đối với Ngài, vợ chồng ăn ở
cùng chung nhau chưa đầy ba năm Ngài vộ bỏ thú vui của ngũ
dục, cung điện thành trì, trốn đến ở nơi chốn Vương
Điền. Đức Vua thân hành đi rước mà Ngài quày quả chẳng
chịu về, trở lại còn sai Xa Nặc dắt ngựa trắng về trả.
Ngài tự quyết thề nguyền đến chứng thành Đạo mới trở
về, mặc áo bằng da nai giống như người cuồng dại, ở
ẩn chốn núi rừng, chuyên tu khổ hạnh được sáu năm, lúc
đặng thành Phật, khi trở về nước cũng chẳng hỏi đến
người thân, ân xưa quên hẳn, tuồng như khách lạ qua đường,
xa lìa cha mẹ, ở ngụ nơi xứ người. Khiến cho mẹ con tôi
côi cút quạnh hiu, mẹ góa con côi một mình trơ trọ, còn
sống đây cũng không có người nhờ cậy, chỉ còn một cái
chết mà thôi.
Song
mạng người là chí trọng, nên tôi không lẽ tự vẫn, đành
phải ôm sầu nuốt thảm. Tuy là mạng còn sống, tuy là ở
với loài người mà chẳng bằng một con súc vật, cái họa
trong các cái thảm họa đâu có cái thảm họa nào hơn ư!
Thế mà hôm nay lại còn sai người về muốn dứt con tôi đi
làm quyến thuộc, tệ sao mà tệ lắm vậy. Thái tử thành
đạo tự nói rằng: "Từ Bi", mà cái đạo Từ Bi lẽ ra làm
cho mọi người yên vui mới phải. Cớ sao nay lại làm biệt
ly mẹ con người, trong những cái rất khổ, đâu có cái khổ
nào bằng cái khổ ân ái biệt ly! Ngài lấy đây thử nghĩ
thì Từ Bi chỗ nào?". Bà lại thưa với ngài Mục Liên nữa
rằng: "Thưa Ngài! Ngài cảm phiền đem những lời của tôi
về thưa lại với Đức Thế tôn!".
Bấy
giờ, Mục Liên bèn dùng phương tiện mỗi mỗi nhân duyên
tùy nghi giảng dụ đi lại đôi ba lần mà bà Da Du Đà La chắc
ý không nghe. Túng thế, Ngài phải từ tạ trở về chỗ vua
Tịnh Phạn tỏ bày tự sự như trên. Vua nghe lời ấy rồi
bèn sai người mời bà đại Phu nhân là bà Ba Xà Ba Đề đến.
Vua bảo với bà rằng: "Này khanh! Con ta là Tất Đạt Đa sai
ngài Mục Liên về rước La Vân, muốn cho La Vân vào đạo
tu học Pháp Thánh, nhưng Da Du Đà La là người đàn bà ngu
si, chưa hiểu pháp yếu, nên tâm ý cứ nằn ghịt thẳng dây
tình ân ái không chịu buông thả. Vậy khanh hãy đến đó
giảng dụ đôi lời nữa, khiến cho tâm nó khai ngộ".
Lúc
bấy giờ, Đại Phu nhân liền đem theo năm trăm kẻ thanh y
đi đến trong cung của bà Da Du Đà La ở, dùng đủ cách phương
tiện tùy nghi giảng dụ cũng đến đôi ba phen mà bà Da Du
Đà La vẫn không chịu nghe còn trở lại thưa với bà Đại
Phu nhân rằng: "Thưa mẹ! Mẹ nghĩ coi, hồi con còn ở nhà
cha mẹ con thì các vua trong tám nước đều đến nói con mà
cha mẹ con chẳng hứa. Sở dĩ vì sao? Vì bởi Đức Phật Thích
Ca hồi còn làm Thái tử tài trí cao xa, võ nghệ hơn người,
thế cho nên cha mẹ con mới gả con cho đó. Nhưng Thái tử
bấy giờ biết cuộc đời là giả tạm nên quyết chí xuất
gia học đạo, đã yên bổn phận thì thôi, cớ sao lại ân
cần bảo người về bắt con tôi? Luận cho đúng lý, người
ta cưới vợ chính vì sự ân ái sum họp vui vầy, muôn đời
sanh con đẻ cháu truyền giòng nối dõi để kế nghiệp tổ
tông, đó là cái lẽ chính trong thế gian, thế mà hôm nay Thái
tử đã đi tu rồi, sao lại còn về bắt La Hầu muốn khiến
cho đi xuất gia, thì té ra tuyệt giòng trị nước nào có nghĩa
lý gì đâu?".
Từ
nãy đến giờ Hoàng hậu ngồi nghe những lời ấy rồi lặng
lẽ làm thinh không biết nói sao được!
Khi
bấy giờ, Đức Thế tôn liền sao vị Hóa nhân ở giữa hư
không bảo rằng: "Này Da Du Đà La! Bà còn có nhớ việc thề
nguyền hồi trước kia không? Phật Thích Ca Như Lai đương
đời đó chính là tôi nay đây. Khi tôi còn làm đạo Bồ tát,
tôi dùng năm trăm quan tiền, theo bà mua đặng năm cành hoa
sen cúng dâng lên cho Đức Phật Định Quang. Lúc ấy, bà cầu
tôi đời đời sanh chỗ nào cùng nhau làm chồng vợ". Song
tôi chẳng chịu lại bảo bà rằng: "Tôi làm đạo Bồ tát
đời nào, đời nào tôi cũng thực hành theo bổn nguyện của
tôi. Nghĩa là bố thí tất cả không trái ý mọi người. Bà
nếu có thể bằng lòng như vậy, thì tôi mới cho làm vợ
tôi". Khi đó, bà lập lời thệ rằng: "Nguyện đời đời
sanh ra chỗ nào, quốc thành thê tử cùng với thân mạng tôi,
mặc dù ông muốn cho ai thì cho, tôi thề không bao giờ có
tâm hối hận". Thế mà nay vì cái gì mà bà lại ái tiếc
La Hầu không cho đi xuất gia học đạo Thánh vậy".
Da
Du Đà La nghe lời ấy rồi bỗng nhiên nhớ lại nhân duyên
đời trước mọi sự rõ ràng như cái việc mới thấy ngày
hôm qua, tâm tình thương con tự nhiên tiêu hết. Bà liền sai
người mời ngài Mục Liên đến để bà sám hối từ tạ
và cầm tay La Hầu phó thác cho ngài Mục Liên, cùng con biệt
ly với đôi hàng giọt lệ. Lúc ấy, La Hầu tháy mẹ sầu
khổ liền quỳ xuống chắp tay từ tạ mà thưa rằng: "Thưa
mẹ! Xin mẹ ở nhà chớ buồn, La Hầu con nay đến viếng Đức
Thế tôn rồi con sẽ trở về cùng mẹ thấy mặt". Khi đó,
vua Tịnh Phạn vì muốn an ủi bà Da Du Đà La để cho bà được
vui lòng.
Liền
đòi các nhà Hào tộc trong nước nhóm họp mà nói rằng: "Con
của vua Kim Luân vương, nay sẽ đến nước Xà Bà Đề theo
Phật Thế Tôn xuất gia học đạo. Vậy phiền các khanh mỗi
người đều cho một con đi theo cháu trẫm". Vua vừa phán xong,
thì ai nấy đều vâng lời kính cẩn phụng mạng.
Tức
thời nhóm họp có năm mươi người đi theo La Hàu đến nơi
Đức Phật cúi đầu làm lễ. Khi đó, Phật bảo ông A Nan
cạo đầu cho La Hầu La và năm mươi vị vương tôn công tử
thảy đều cho xuất gia. Dạy ông Xá Lợi Phất làm Hòa thượng.
Ngài Đại Mục Kiền Liên làm A Xà Lê, truyền trao cho mười
Giới pháp đều làm Sa - di. Song La Hầu tuổi còn thơ ấu đã
quen theo thói ngạo mạn, chỉ thích chơi đùa chẳng chịu nghe
pháp, Phật hằng dạy bảo mà ông vẫn không nghe, chẳng biết
làm sao được.
PHẦN
CHÁNH TÔNG
Khi
bấy giờ, vua Ba Tư Nặc nghe con của Phật là La Hầu đi xuất
gia làm sa-di. Vua cùng với quần thần Phu nhân, Thái tử, hậu
cung, thể nữ, Bà-la-môn và cư sĩ cung kỉnh đi theo. Buổi
trời sáng sớm đồng đi đến chỗ Phật làm lễ hỏi thăm
và xem con của Phật là Sa-di La Hầu. Rồi mỗi người ngồi
một phía, nhân đó Phật lại vì nói pháp. Nhưng vua và quần
thần vì đã quen thói kiêu mạn nên nghe Phật nói pháp ngồi
lâu chán nản muốn từ tạ lui về.
Khi
bấy giờ, Đức Thế tôn biết vua mới ngộ, tín căn chưa
vững, toan muốn khai ngộ cho vua và quần thần được nhiều
lợi ích. Nên bảo A Nan rằng: "Ông nên đi kêu Sa-di La Vân
và tất cả quyến thuộc đều đến nhóm đây nghe Ta nói pháp".
Ông A Nan đi kêu trong chốc lát đều nhóm đủ.
Phật
lại bảo vua rằng: "Người đợi giây phút nghe Ta nói pháp".
Vua liền vòng tay bạch rằng: "Thưa Đức Thế tôn! Nay thân
con đây quen thói vui chơi đã nhiều, không có thể ngồi nghe
lâu được, khổ lắm mong Phật tha thứ". Phật liền bảo
Vua rằng: "Thế cũng không lấy gì làm khổ. - Là vì sao? Vì
bởi đời trước gieo trồng cội phúc cho nên đời nay được
làm vua, thường ở trong chốn thâm cung thỏa tình ngũ dục,
lúc ra vào có kẻ hầu hạ, chân không chấm đất sao gọi
là khổ? Cái khổ ở trong Tam giới đâu có cái khổ nào bằng
các nạn khổ nơi đường địa ngục, Súc sanh và Ngạ quỷ,
những cái khổ như trên Ta đã từng nói rồi".
Phật
liền quay lại bảo La Vân rằng: "Này La Vân con ơi! Gặp Phật
ra đời rất khó, nghe được Chánh pháp rất khó, giữ được
thân người là khó và đắc đạo cũng khó, mà con nay được
thân người, lại gặp Phật ra đời cớ sao biếng lười,
chẳng chịu nghe pháp vậy?". La Vân bạch Phật rằng: "Thưa
Đức Thế tôn! Pháp Phật tinh diệu, tâm trí con còn non nớt
đâu đặng nghe nổi pháp mầu của Đức Thế tôn. Trước
con đã từng nghe, nay lại quên hết, luống nhọc tinh thần,
không đặng một chút, và con nay tuổi còn nhỏ, tình ý hay
buông lung, đợi đến chừng con tuổi lớn khôn, may ra có khác
chút nào mới nghe pháp được". Phật bảo La Vân: "Muôn vật
vô thường, thân người cũng khó giữ được, vậy ngươi
có thể giữ được mạng ngươi đến lớn không?".
"Dạ
thưa Đức Thế tôn! La Vân con đây không thể giữ được,
như Phật há chẳng giữ giùm mạng con ư?". Phật bảo: "Này
La Vân! Ta còn không giữ được cho Ta huống chi là giữ giùm
cho ngươi". La Vân bạch Phật rằng: "Luống nhọc theo pháp
đã không đắc đạo, vậy công nghe pháp nào có ích cho cho
người". Phật lại bảo La Vân: "Công trình nghe pháp dù đời
nay tuy không đắc đạo, nhưng đời sau thọ thân trong ngũ
đạo được nhiều lợi ích. Như Ta trước đã nói Bát Nhã
trí tuệ cũng kêu là cam lộ, cũng kêu là vị lương y, cũng
kêu là cầu cống, cũng kêu là chiếc thuyền to, người đã
nghe chưa?".
La
Vân bạch Phật:"Thưa Đức Thế tôn! Con đã được nghe".
Khi
bấy giờ, vua Ba Tư Nặc quỳ gối chắp tay bạch Thế Tôn
rằng: "Như Phật vừa nói Bát Nhã trí tuệ kể có bốn tên,
nhưng chưa biết nghĩa đó ra làm sao, mong Phật thương xót
vì con giảng dạy". Phật bảo vua rằng: "Người muốn đặng
nghe thì phải để tâm nghe kỹ, Ta nay nói đây". Phật nói:
"Ta nhớ nghĩ đời quá khứ từ vô số kiếp, ở nước Tỳ
Ma Đại, trong núi Tỷ Đà có một con Giả Can bị một con
sư tử vương rượt bắt muốn ăn thịt, Giả Can sợ hãi giông
nhảy rớt xuống một cái giếng không có thể lên được,
ở đấy ba ngày tâm tưởng chắc chết. Mà nói bài tụng như
vầy:
Thảm
kịch! Ngày nay khổ đến cùng!
Chắc
là mất mạng ở nơi giếng!
Tất
cả vạn vật đều vô thường,
Tiếc
thay chẳng hiến thân (cho) sư tử!
Than
ôi! Thân tội ách nạn gì,
Tham
tiếc thân mạng chết không công,
Không
công mà chết đã đáng giận.
Lại
để thân thối nhơ giếng người.
Nam
mô sám hối mười phương Phật,
Chứng
biết lòng con sạch mãi rồi.
Đời
trước đã làm ba nghiệp tội,
Nguyện
đem thân này đền trả xong.
Các
tội hết rồi ba nghiệp sạch,
Tâm
cần bất động niệm chơn thật,
Từ
đây kiếp kiếp gặp Minh sư,
Như
Pháp tu hành mau thành Phật.
Khi
Trời Đế Thích nghe tên Phật,
Bừng
dậy dửng tóc nhớ Phật xưa.
Nghĩ
mình cô lộ không Thầy dạy,
Say
mê ngũ dục tự đắm chìm.
Không
thể vượt qua khỏi ngục ái ân.
Càng
suy càng thảm ứa nước mắt,
Liền
cùng chư Thiên tám vạn chúng.
Bay
xuống bờ giếng muốn hỏi gạn.
Mới
thấy Giả Can nơi đáy giếng,
Hai
tay bấu đất không lên được,
Thiên
Đế lại tự nghĩ thầm rằng:
Thánh
Nhân ứng hiện nhiều phương pháp,
Ta
nay tuy thấy hình Giả Can,
Ấy
là Bồ Tát chẳng phải phàm.
Nay
xin hỏi rõ chỗ nghi ta,
Và
khiến chư Thiên được nghe pháp.
Không
nghe Thánh giáo đã hèn lâu,
Ở
chỗ mịt mù không Thầy dạy,
Những
lời nhơn giả chẳng phải phàm.
Xin
vì chư Thiên nói pháp giáo.
Khi
ấy Giả Can ngước đáp rằng:
Ngài
là Thiên đế không ai dạy,
Thật
rất si ngạo không biết thời,
Pháp
sư ở dưới mình ở trên,
Đã
không cung kính lại hỏi Pháp,
Pháp
như nước mát cứu được người.
Thế
nào muốn được lòng ngạo mạn.
Thiên
Đế nghe rồi rất hổ trẽn (thẹn),
Chư
Thiên đứng hầu bật buồn cười.
Thiên
Vương chìu lòng thật không ích,
Còn
bị hổ thẹn rất đáng thương,
Đế
Thích tức thời bảo chư Thiên,
Dè
dặt chớ cho là quái lạ,
Ta
đây ngu tệ hạnh chẳng xứng.
Vì
thế quyết phải nghe Pháp yếu,
Liền
vì xủ xuống áo Thiên y,
Bọc
lấy Giả Can lên khỏi giếng.
Vòng
tay từ tạ lời vô lễ.
Cúi
đầu sám hối xin tha tội.
Chư
Thiên thiệt đúng như Thầy dạy,
Triền
miên ngũ dục rất hoang mê,
Đều
bởi không gặp Thầy hay giỏi,
Giảng
nói khổ, vui, thường, vô thường.
Chư
Thiên dâng cúng cam lồ thực,
Giả
Can đặng ăn hy vọng sống.
Không
ngờ trong họa lại gặp phước,
Tâm
tình khấp khởi mừng xiết bao.
Khi
ấy, Giả Can tự nghĩ rằng: "Trong đường súc sanh, sự xấu
xa thô tệ nhất là Giả Can, nhưng nhờ cái sức trí tuệ nên
được như vầy. Lại tự nghĩ thân mình thô xấu thật chẳng
đáng yêu, sở dĩ vui mừng và vui mừng hơn nữa là được
hoằng Pháp. Chư Thiên si mê đây đều nhờ Đế Thích trước
có chút phần Bát Nhã, nên được chung cùng đồng đến nghe
Pháp. Rồi tự khen rằng: "Lạ thay! Lạ thay! Có cái may nào
bằng cái may ngày nay được thuyết pháp, để thành công đức
cho Ta". Lại nghĩ rằng: "Cám ơn ngày hôm nay đây không nhờ
công sức công đức trí huệ phương tiện của Hòa thương
tiên sư Ta từ mẫn dạy bảo hay sao?".
Cung
kỉnh Thầy ta! Cung kỉnh thầy ta!
Nam
mô Bát Nhã! Nam mô Bát Nhã!
Tuy
con làm tội sanh trong ác thú, nhưng con vẫn nhớ đời trước
và biết được nghiệp duyên là nhờ sức Bát Nhã cảm hóa
chư Thiên giáng thần đến đây cúng dường tiếp tế và được
hoằng pháp thỏa chút lòng con".
Khi
đó, Trời Đế Thích bảo chư Thiên rằng: "Như lời Thầy
nói định muốn thuyết pháp. Chúng ta từ nay được nhiều
thiện lợi. Vậy thì ai cũng phải cúi đầu thành thật xin
Thầy thuyết pháp". Đế Thích nói xong rồi chư Thiên đều
vâng mạng. Tức thời mỗi người sửa sang cung kính cẩn trịch
vai áo bên hữu đồng thời bao chung quanh Giả Can, quỳ xuống
chắp tay, mỗi người đồng tiếng mà nói bài tụng rằng:
Hay
thay! Hay thay!
Hòa
thượng Giả Can
Xin
Ngài nói Pháp,
Khai
hóa cõi Thiên!
Cõi
Thiên mờ mịt,
Mê
đắm ngũ dục.
Hằng
sợ phước hết
Vô
thường kéo lôi!
Chết
đọa ác đạo
Khó
cứu ra khỏi,
Đã
lâu đời lắm,
Mấy
muôn ức năm,
Nay
mới gặp một,
Ruộng
phước tốt lành
Xin
Thầy thương xót,
Nói
Pháp cho nghe,
Thiên
nhơn đặng phước
Chúng
sanh cũng được
Nguyện
cùng Hòa thượng,
Vĩnh
kiếp theo nhau,
Đến
khi thành Phật,
Thường
kết nhân duyên.
Minh
sư khó gặp,
Nên
phải thề nguyền.
Khi
bấy giờ, Giả Can thấy các người Trời ân cần khuyến thỉnh
và ưa muốn nghe pháp thì lòng vui mừng bội phần. Liền bảo
Thiên đế rằng: "Ta nhớ nghĩ thuở xưa Ta từng thấy người
đời, những người muốn nghe pháp, thì trước phải sửa
sang một cái tòa cao, trang sức thanh tịnh, mới thỉnh Pháp
sư lên ngồi thuyết Pháp. Vì sao? - Bởi Kinh Pháp là quý trọng,
kỉnh đó thời được phước, chớ nên đem cái tâm khinh,
mà bị tổn phước". Chư Thiên nghe rồi ai nấy nói rằng:
"Xin vâng". Liền cởi áo Thiên bảo chồng lại thành một cái
tòa cao, chỉ trong giây phút đã được trang sức tôn nghiêm
thanh tịnh bậc nhất.
Khi
đó, Giả Can lên tòa, bảo Thiên đế rằng: "Ta nay nói Pháp
chính là vì hai sự nhân duyên rất lớn: Thế nào gọi là
hai: 1- Là vì thuyết pháp khai hóa cõi Thiên thì được phước
không lường. 2- Là vì cái ơn thí cho ăn không nói sao được".
Thiên đế thưa rằng: "Cứu khỏi nạn chết dưới giếng được
toàn thân mạng thì cái công ơn rất lớn. Thế nào Tôn giả
lại nói cái ơn đó không bằng cái ơn thuyết pháp. Sở dĩ
vì sao?" Hòa thượng phải biết rằng: "Tất cả trong thiên
hạ ai cũng ưa sống cầu an, không ai muốn chết cả. Do vì
nhân duyên ấy nên cái công ơn cứu toàn thân mạng há đặng
không lớn hay sao?".
Giả
Can đáp rằng: "Cái sự thích hợp sống chết phải chăng của
mỗi người đều có khác. Hoặc có người tham sống, hoặc
có người ưa chết. Kẻ nào tham sống, là kẻ sống trong đời
ngu si mờ ám chẳng biết chết rồi lại có sanh ra đời sau,
trái Phật xa Pháp, không gặp Minh sư, làm việc sát, đạo,
dâm, dối, chỉ gặp ác là theo, những người như thế là
người tham sống sợ chết. Trái lại, người nào ưa chết,
muốn gặp Minh sư, phụng sự ngôi Tam Bảo, cải dữ làm lành,
hiếu dưỡng cha mẹ, kính thờ Thầy Tổ, hòa thuận vợ con,
tôi tớ quyến thuộc đều được khiêm nhường cung kỉnh
mọi người, những người như vậy là người ghét sống ưa
chết. Sở dĩ vì sao? Vì người lành chết đi, nhờ phước
được sanh lên cõi trời hưởng năm điều dục lạc. Còn
người dữ chết đi sẽ vào địa ngục chịu khổ không cùng.
Người lành ưa chết, như tù ra khỏi ngục, người dữ sợ
chết, như tù vào trong ngục".
Thiên
Đế hỏi rằng: "Như lời thầy dạy té ra cứu toàn mạng
sống không có công phu gì rồi, đúng thật như lời thầy
nói thì còn có hai việc: 1- Là thí cho ăn, 2- Là thí Pháp,
đều có cái công đức gì, cúi xin thầy giảng dạy, khai hóa
kẻ mờ ám này được rõ?".
Giả
Can đáp rằng: "Bố thí về việc ăn uống chỉ giúp mạng
sống trong một ngày, còn bố thí của quý thì giúp sự thiếu
thốn trong một đời, nhưng đó cũng là một sự nhân duyên
ràng buộc thêm lớn đường sanh tử mà thôi, còn về sự
thuyết pháp giáo hóa gọi là Pháp thí có thể khiến cho chúng
sanh được đạo xuất thế gian. Mà đạo xuất thế gian ấy
kể có ba món: Một là La Hán, Hai là Bích Chi Phật. Ba là Phật
Đạo. Những người trong bậc Tam Thừa ấy đều nhờ nghe
Pháp rồi y theo Pháp tu hành mới chứng được. Lại những
chúng sanh khỏi cái khổ trong ba đường ác đạo, được hưởng
cái phước vui ở cõi trời là đều nhờ nghe Pháp. Thế cho
nên Phật nói đem Pháp bố thí thì được công đức vô lượng".
Thiên
đế thưa rằng: "Nay thân thầy đây, thật là thân nghiệp
báo hay là thân Ứng Hóa vậy?".
Giả
Can đáp rằng: "Thật là cái thân nghiệp báo chớ chẳng phải
là thân Ứng Hóa".
Người
trời nghe rồi bừng dậy kinh hãi, buồn thảm thương tâm,
nhỏ đôi hàng giọt lệ, liền đứng dậy cung kỉnh bạch
Giả Can rằng: "Lòng con tưởng thầy là Bồ Tát Thánh nhân
ứng hiện cứu đời mà nay vừa nghe Thầy nói là tội nghiệp
quả báo. Chúng con chưa rõ cái duyên cớ gì? Cúi xin thầy
thương xót nói rõ nhân duyên ấy?".
Giả
Can đáp rằng: "Ngài muốn nghe cũng được, ta nay nói đây.
Ta trước hồi đời thượng cổ, ta sanh trong nước Ba La Nại,
tại thành Ba Đầu Ma, làm con nhà nghèo tên là A Dật Đa cũng
thuộc về dòng Sát đế lợi, tuy tuổi còn nhỏ mà thông minh
ham mộ sự học hành đến khi mười hai tuổi đi theo Minh sư
vào ở trong chốn thâm sơn nhọc nhằn hầu hạ, nghiên cứu
tập học siêng năng không biếng lười, thầy cũng ngày đêm
tha thiết dạy bảo, không mất thời giờ, trải qua năm mươi
năm học được chín mươi sáu món Kinh, Thơ, Ký, Luận, Phương
y, Chú thuật và xem tướng biết hung, tai, dị, họa, phước
không có món nào mà không biết, trí đức tài cao danh vọng
bốn bể.
Khi
bấy giờ, A Dật Đa tự nghĩ rằng: Cái sự cứu giúp ngày
nay đâu không nhờ cái công ơn giáo hóa của Hòa thượng Tôn
Sư ta, cái công ấy khó trả. Song mà nhà ta nghèo hèn không
có gì để cúng dường, chỉ còn một lẽ là bán thân để
đền đáp ơn thầy, nghĩ như thế rồi liền quỳ xuống thưa
với thầy rằng: "Đệ tử con nay muốn tự bán thân đền
trả ơn Thầy".
Thầy
lại bảo rằng: "Này con! Kẻ đạo sĩ này ở trong núi vẫn
đi khất thực tự nuôi sống không có việc chi thiếu thốn,
nhưng con nay vì sao lại hủy báng cái thân quý mà cúng dường
cho ta vậy. Thôi con nay đã được thành tựu trí tuệ biện
tài thì nên đi giáo hóa thiên hạ nhân dân, vì pháp làm ngọn
đèn sáng, thì cái công giáo hóa ấy há chẳng đủ trả ơn
cho ta hay sao! May lắm! Thôi đừng làm những chuyện như vậy".
Khi
đó, A Dật Đan là người trí nên không trái lời Thầy, bèn
ở lại trong nước đi khất thực tự nuôi sống. Như vậy
không bao lâu vị Quốc vương trong nước thăng hà. Các quan
quần thần nhóm họp lại luận bàn, ra lệnh trong nước các
chư học sĩ đều mời nhóm hết bảo cùng nhau thi luận, nếu
ai được nhiều hơn hết sẽ được làm vua.
Khi
ấy, A Dật Đa cũng được mời đến nhóm cùng với chư học
sĩ có hơn năm trăm người, suốt trong bảy ngày cùng nhau thi
luận. Nhưng không có ai hơn được A Dật Đa. Quần thần rất
vui mừng liền mời các thầy Bà-la-môn lại, tôn A Dật Đa
lên nối ngôi vị Quốc vương.
Khi
A Dật Đa thấy sự như vậy rồi, vừa lo vừa mừng mà tự
nghĩ thầm rằng: "Nếu ta làm vua thì sợ e có cái tâm kiêu
mạn khoái ý tham cầu làm cho nhân dân bị khổ, đến khi chết
sẽ đọa vào trong địa ngục, vì làm vua là một nhân duyên
chịu khổ, còn nếu không làm vua thì nhà nghèo không có cái
của cải lấy gì cúng dường báo đáp ơn nặng cho thầy,
nghĩ đi nghĩ lại đành phải nhận ngôi vua để trả ơn cùng
nuôi dưỡng song thân. Nghĩ như vậy rồi đành nhận ngôi vua.
Khi
lên ngôi vua rồi liền sai quan trung thần sửa soạn xe báu,
tràng phan bảo cái, hương hoa kỹ nhạc đủ trăm món đồ
ăn uống vào trong núi rước thầy về nước cúng dường riêng
lập cung điện toàn bằng thất bảo, sơn phết chạm trổ
đủ mọi vẻ đẹp, nào là giường chõng mền nệm, đồ ăn
uống thuốc thang, vườn hoa, rừng quả, suối chảy ao tắm
trang hoàng rực rỡ để cúng dường thầy. Vua A Dật Đa cùng
với quan dân trong nước Phu nhân thể nữ. Ngày ngày theo thầy
thọ giáo pháp Thập thiện suốt trong một trăm năm.
Khi
ấy, cõi ngoài có hai nước nhỏ, hai ông vua nhỏ kia cùng nhau
ganh ghét riêng lập binh mã đánh giết lẫn nhau, trải qua đã
nhiều năm mà đàng nào cũng không hơn đàng nào. Một nước
nhỏ kia tên là An Na La, một nước nữa tên là Ma La Bà Da.
Lúc đó vua An Na La mời các quần thần nhóm lại cùng nhau
đề nghị rằng: "Chúng ta phải lấy phương pháp gì để đánh
hơn được nước kia". Các quần thần đáp rằng: "Vua A Dật
Đa là người sanh sản nơi nhà hàn tiện, tuy là địa vị
ngôi vua, nhưng cái tánh hàn tiện vẫn còn, và từ xưa đến
nay vâng giữ theo mười điều lành không phạm sắc ngoài (tà
dâm) tuy có cung nữ nhưng mà tuổi già hết rồi. Như theo kế
của tiểu thần thì nên tìm xem trong nước, không luận nhà
nghèo hay giàu, miễn gái cho có tiếng, đủ một trăm người
tuổi trẻ sắc đẹp, hễ vừa ngó thấy là vừa thích ý,
ăn mặc trang điểm phấn son thơm sạch. Rồi sai quan trung thần
chở chuyên của báu và các thể nữ ấy đem sang cống hiến.
Nếu ngài thâu nhận thì xin ngài giúp cho trăm vạn hùng binh
đem qua đánh thì không đâu là không thắng". Ai nấy liền
y theo kế đó: Gái đẹp, của báu trong một giờ tìm đủ,
vua sai trung thần đem sang cống hiến.
Khi
bấy giờ, vua A Dật Đa được các mỹ nữ và của báu thì
chi xiết vui mừng mới hỏi vị sứ thần rằng: "Vua ngươi
cống hiến cho ta những vật quý như thế này mà muốn cho
ta đáp lại những gì không?" Sứ thần tâu rằng: "Vì nước
Ma La Bà là một nước dưới quyền thống trị của Đại
vương, vua kia ngu mê không biết giáo hóa nhân dân, dâm loạn
vô đạo không lo việc quốc chánh, nhân dân bị đồ thán
xem như kẻ thù. Dám xin Đại vương giúp cho trăm vạn hùng
binh đem qua đánh nước ấy. Nên hôm nay tôi thành tâm cống
hiến chính là vì lẽ đây". Vua nói rằng: Hay lắm! Rồi liền
sai quan lệnh giản kiểm đủ trăm vạn hùng binh đem giao phó
cho đó và vua An Na La cũng tự chọn lựa trong nước được
trăm vạn binh nhân đồng thời giúp nhau, thổi hiệu ra lệnh
suốt trong trăm ngày đấu chiến sát hại người chết hơn
nửa, mới thắng được nước kia. Bấy giờ, vua Ma La Bà đều
bị xử trảm và cả họ hàng có hơn ngàn vạn người trong
một thời đều chết sạch.
Bấy
giờ, nhắc lại vua A Dật Đa khi được các gái đẹp thì
tình ý mê hoặc quên mất bổn tâm, lung dâm chơi đùa không
lo việc quốc chánh; để cho quan quần liêu cùng nhau làm loạn;
bắt con gái của lương dân về làm nô lệ. Gió mưa không
đúng thời tiết, nhân dân chết đói đầy đường. Nên bị
kẻ địch nước ngoài bèn đến xâm lấn. Vua A Dật Đa từ
đây mất nước rồi cũng bị diệt vong.
Sau
khi chết rồi sanh trong đường địa ngục thân chịu khổ
sở, nhưng vì nhờ đời trước có sứ học vấn trí tuệ,
nên nhớ được túc mạng tâm tự hối quá bỏ dữ làm lành;
chỉ trong giây lát hết đời địa ngục sanh làm ngạ quỷ,
mà còn nhớ được mạng đời trước, liền lại ăn năn tội
lỗi, chuyên tu pháp Thập thiện; trong giây lát lại hết đời
ngạ quỷ sanh trong loài súc sanh, chịu cái thân Giả Can, song
vì nhờ cái sức trí tuệ nên lại còn biết được túc mạng;
bỏ những việc ác đã qua sửa làm việc lành sắp đến,
vâng giữ pháp Thập thiện, lại đi giáo hóa tất cả chúng
sanh khiến dạy bảo làm mười điều lành. Nhưng nay rủi gặp
sư tử rượt bắt trong khi sợ hãi nhảy nhào xuống giếng,
trong tâm tưởng là chết rồi sẽ được sanh về cỏi trời
hết khổ được vui, nhưng mà do ngươi cứu ta làm trái bổn
nguyện của ta nên mới trải qua những nỗi khổ, biết đời
nào khỏi được. Thế cho nên ta nói ngươi cứu mạng ta là
không có công phu vậy.
Thiên
Đế nạn rằng:"Như theo lời thầy nói thì người lành cầu
chết. Việc ấy không phải vậy. Là vì sao? Vì thầy ở dưới
giếng nếu không nắm vào áo thì không đặng lên, nếu không
đặng lên thì thân không đặng sống. Nay xét cái nguyên do
được sống là nhờ thầy nắm vào áo. Thế cho nên phải
biết rằng: "Chẳng phải là thầy không muốn sống lẽ nào
thầy lại nói rằng thầy không tham sống ư?".
Giả
Can đáp rằng: "Ý ta nay sở dĩ nắm vào áo là chính vì ba
sự nhân duyên rất lớn. Sao gọi là ba? Một là nắm vào áo
vì không trái cái bổn nguyện của Thiên đế. Vả lại làm
trái ý không mãn chỗ sở nguyện của người, thì mắc cái
khổ rất lớn, làm cho người khổ não thì đời đời sanh
ra chỗ nào, chí nguyện cũng không loại, cầu chi cũng không
dặng, tìm nơi nào cũng không gặp, khổ não đến thân. Ta
vì cái lẽ ấy chớ chẳng phải là vì sự sống vậy. Hai
là nắm vào áo, là thấy ý chư Thiên muốn đặng nghe Pháp;
nên ta muốn vì chư Thiên tuyên truyền Chánh pháp bởi ta không
lẫn pháp vậy. Ví như ta không nói thì thành ra lẫn pháp,
mà cái tội lẫn pháp đời đời sanh đui, điếc, câm, ngọng,
các căn bế tắc, sanh ở chốn biên địa, ngu si vô trí. Dù
sanh ở chỗ tốt mà tâm tánh ám độn sở học không thành
tựu nên khổ não đến thân. Ta nay vì cái lẽ ấy chớ chẳng
phải vì sự sống vậy. Thí như người đời, nhân đời trước
của họ làm việc bố thí tu thiện phước đức nhân duyên,
nên đời nay sanh ra làm người, chỗ sở nguyện tùng tâm giàu
có của cải, mà kẻ nghèo đi đến xin lại keo tâm lẫn tiếc
không chịu thí cho, cái quả báo của sự xan tham sẽ sanh trong
đường ngạ quỷ thường bị nạn đói khát, áo chẳng đủ
che thân, mùa đông lạnh rét thân thể nứt nẻ, mùa nắng
thì nóng dữ, không có bóng che, khổ não như thế đến mấy
nghìn vạn kiếp. Tội ngạ quỷ hết rồi sanh trong loài súc
sanh ăn cỏ uống nước, ngu dại không biết chi, hoặc ăn bùn
đất, uống nước bất tịnh, đó là vì mắc cái tội xan
tham, cho nên phải chịu cái quả báo như vậy. Mà cái tội
lẫn Pháp cũng như thế.
Ba
là nắm vào áo, là chính vì muốn tuyên truyền Pháp hóa cùng
khắp vậy thôi. Đó là vì muốn khai ngộ lợi ích cho người
trời".
Thiên
đế lại hỏi rằng: "Gọi là Pháp thí được công đức không
lường". Việc ấy ra làm sao? Cúi xin thầy nói cho. Giả Can
đáp rằng: "Tuyên truyền Chánh pháp hay khiến cho chúng sanh
được biết có chết đây thì có sanh kia, làm lành thì được
phước, làm ác phải chịu họa, tu đạo đắc đạo; nhờ
công đức ấy, đời sau sanh ra được trí tuệ sáng suốt
thường biết túc mạng: hoặc sanh lên cõi trời thì làm thầy
của chư Thiên, nếu sanh trong thế gian, thì làm vua Kim Luân
thường đem pháp Thập Thiện giáo hóa trong thiên hạ; hoặc
làm vị nhân vương, lấy Chánh pháp trị nước, thường biết
túc mạng, vì biết túc mạng, nên tâm không buông lung.
Pháp
người ở địa vị cao sang, hưởng thú vui của ngũ dục phần
nhiều có ma sự đến phá hoại, cám dỗ khiến cho người
cảm tình tạo ra nghiệp ác, tuy còn làm những việc tội lỗi
chịu cái quả báo ác, nhưng nhờ cái sức trí tuệ, chóng
được khỏi khổ, sanh lên cõi trời, hưởng phúc vui; trí
tuệ sáng suốt, dần dần tăng trưởng thành hạnh Bồ Tát;
đến nhẫn vô sanh. Thế cho nên Phật nói rằng: "Cái công
giáo hóa được phước không lường".
Thiên
đế vui mừng thưa rằng: "Hay thay! Hay thay! Đúng thật như
lời thầy nói thì con và chư Thiên, ngày nay mới biết tài
thí và Pháp thí cái công đức nhân duyên tướng có sai khác.
Những người làm việc tài thí ví như một ngọn đèn soi
sáng trong một nhà nhỏ. Còn việc làm Pháp thí ví cũng như
ánh sáng của mặt nhật soi trong bốn châu thiên hạ, ánh sáng
đến đâu thì sự mờ ám tiêu hết. Sở dĩ vì sao? Vì cái
thể của mặt nhật, tánh nó tự sáng cho nên hay chiếu vật.
Hòa thượng nay cũng lại như vậy. Vì cái bản thể tu tập
nên được sáng suốt, lại đem trí tuệ sáng suốt đó trừ
cái mờ tối cho chúng sanh".
Đương
khi Thiên đế nói lời ấy rồi, thì tám vạn chư Thiên cả
thảy đều đứng dậy sửa sang y phục, cung kỉnh quỳ gối
chắp tay bạch với Giả Can rằng: "Xin thầy thương xót trao
cho chúng con pháp Thập thiện được nhiều lợi ích cho tất
cả chúng sanh được lợi ích và cũng khiến cho Hòa thượng
thêm nhiều công đức". Giả Can đáp rằng: "Hay thay! Thật
ngươi rất biết thời". Liền bảo Thiên đế rằng: "Cái pháp
thọ giới thì trước hết phải sám hối cho thân, khẩu, ý
được thanh tịnh. Thế nào gọi là Thân nghiệp? Nghĩa là
sát, đạo, dâm. Thế nào gọi là Khẩu nghiệp? Là vọng ngôn,
ỷ ngữ, lưỡng thiệt và ác khẩu. Thế nào là Ý nghiệp?
Là tật đố, sân nhuế và tà kiến. Ấy là mười việc cấm
ngăn thân, khẩu, ý ba nghiệp đừng cho phạm các việc ác
đó gọi là Thập ác. Bấy giờ, phải nhất tâm thành thật
sám hối chừa bỏ mười điều ác, vì mười điều ác tiêu
hết, thì thân, khẩu, ý được thanh tịnh, vì ba nghiệp được
thanh tịnh cho nên, gọi là Thập thiện".
Thiên
đế lại hỏi Hòa thượng Giả Can rằng: "Cái công đức Thập
thiện quả báo ra làm sao?". Giả Can đáp rằng: "Ta từng nghe
Thầy ta nói, người tu pháp Thập thiện, mà cái quả báo của
pháp Thập thiện, sẽ sanh lên cõi trời Lục Dục, cung điện
toàn thất bảo, ngũ dục sẵn sàng, đủ trăm món đồ ăn,
và mạng sống lâu không lường; cha mẹ, vợ con, dùng lục
thân quyến thuộc, xinh đẹp, sạch sẽ, hoan hỷ, khoái lạc.
Giả
sử như chư Thiên tu pháp Thập thiện thọ phước, cõi trời
hết nhưng cũng trở lại sanh trong cõi trời được phước
báu gấp bội, chớ chẳng phải như cái quả báo Thập thiện
của người đời tu đâu. Vì sao? Bởi vì người đời tu pháp
Thập thiện là ba giới của tâm thật khó giữ gìn.
Một
là giới bất sân. Trước phải phương tiện thực hành tâm
từ, rồi sau mới có thể thành được giới bất sân. Mà
người đời thực hành cái tâm từ, rất khó giữ được
lâu. Ví như rạch nước, vừa rạch thì vừa hiệp, giữ giới
bất sân cũng lại như thế.
Hai
là giới tật đố. Giới tật đố phát ra có lúc. Thế nào
là phát ra có lúc. Nghĩa là thấy người kia được lợi, thấy
người kia khoái lạc, thấy người kia kia đoan chánh, thấy
người kia mạnh mẽ, thấy người kia thông minh, thấy người
kia tu phước. Nói tóm lại là thấy tất cả việc người
hơn mình thì khi ấy cái tâm thấy hơn mình mới sanh ra tật
đố. Thế cho nên phải biết rằng: Cái tâm tật đố phát
ra có lúc.
Ba
là cái tâm kiêu mạn. Mà cái tâm kiêu mạn kia phát ra cũng
có lúc. Nghĩa là: Thấy người ngu si, thì cái tâm khởi ra
sự kiêu mạn, và lại thấy người xấu xa, thấy người nhơ
bẩn, thấy người nghèo khổ, nói tóm lại là thấy người
đui, điếc, què, lết các căn không đủ, mường mán, mọi
rợ, thì lúc ấy cái tâm kiêu mạn mới phát khởi ra trong
khi thấy. Thế cho nên phải biết rằng: Giới bất kiêu mạn
phát ra có lúc.
Bởi
vậy, nên người đời giữ giới tâm rất khó. Dù cho gắng
giữ, nhưng thoạt được thoạt không. Thế nên cái quả báo
pháp Thập thiện của người đời tu, dù cho hưởng cái phước
ở cõi trời, nhưng cũng không bằng cái công đức pháp Thập
thiện của người trời tu, quang minh thần lực, những món
ăn, uống, tướng hảo vòi vọi thứ nhất; biết túc mạng
của mình cũng lại như vậy. Bởi thế nên biết rằng: "Người
trời tu pháp Thập thiện thì cái quả báo hơn người đời
tu".
Thiên
đế bạch rằng: "Như lời của thầy nói người tu pháp Thập
thiện ba giới của tâm thật là khó giữ, người trời cũng
vậy những tánh tật đố, sân nhuế, kiêu mạn, tà kiến các
tâm như thế chưa từng không có, thì làm sao cái phước báu
hơn người đời được ư?".
Giả
Can đáp rằng: "Người trời tuy có, nhưng mà không phải như
người đời. Sở dĩ vì sao? Vì người trời phước đức
khổ ít, vui nhiều, tâm phiền não cũng nhẹ, còn người đời
phước mỏng, vui ít, khổ nhiều cho nên tâm phiền não rất
nặng". Thiên đế thưa rằng: "các người trời từ xưa đến
nay ưa vui, tâm như con lộc, lại ví cũng như con viên hầu.
Đời nay tu pháp Thập thiện, đời sau khỏi có tánh ngu si
và hay quên. Nhưng mà trong khi phạm giới phải làm sao vậy
ngài?". Giả Can đáp rằng : "Ta từng nghe thày ta nói người
tu pháp Thập thiện nếu rủi có phạm những nghiệp ác thì
phải đến vị Hiền minh phước đức tùy theo chỗ phạm của
mình mà phát lồ sám hối rồi xin thọ lại, làm người được
như vậy thì không mất giới. Sở dĩ vì sao? Vì giới Thập
thiện đây ví như lúa mạ, còn phiền não như cỏ, cỏ cùng
với lúa lấn hại lẫn nhau. Bây giờ nếu muốn lúa tốt thì
phải nhổ sạch cỏ chỉ còn một thứ lúa, thì thâu hột
được nhiều, vì lúa được nhiều thì không bao giờ bị
nạn đói khát".
Khi
bấy giờ, Thiên đế và tám vạn chư Thiên nghe những lời
ấy rồi thật vui mừng không còn lo buồn vô thường phước
hết, chịu cái quả báo trong ác thú. Lại tự nghĩ rằng:
Cái công đức Thập thiện, tuy khỏi cái quả báo khổ, song
còn phải có sanh tử chẳng khỏi vô thường. Kìa như có vị
Thiên vương ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại thấy người tu phước
ôm lòng tật đố, làm cho người mắc nạn quên mất đường
lành, khiến tạo những nghiệp ác; nhân duyên nghiệp báo nên
phải chịu cái quả khổ". Liền bạch với Giả Can rằng:
"Thưa Tôn sư, tu các công đức gì mà thường bất tử và
khỏi bị Ma vương nó cám dỗ vậy?".
Giả
Can đáp rằng: "Ta từng nghe thầy ta nói: Người mà phát tâm
Bồ đề, tu nghiệp Bồ Tát thì dù cho Ma vương Ba Tuần cũng
không có thể phá hại vì tâm không mê hoặc, đời đời sanh
ra được trí huệ sáng suốt, vì được trí huệ sáng suốt
cho nên thường nhớ được túc mạng, vì nhớ được túc
mạng nên không tạo ra những nghiệp ác, vì không tạo ra những
nghiệp ác cho nên tâm được thanh tịnh, vì tâm được thanh
tịnh nên đặng Pháp nhẫn Vô sanh, vì được Pháp nhẫn Vô
sanh cho nên đối với Đạo không lui sụt xa lìa đường sanh
tử và sự ưu hoạn khổ não".
Thiên
Đế bạch rằng: "Tu đạo Bồ Tát thì nên hành pháp nào?".
Giả Can đáp rằng: "Ta từng nghe thầy ta nói người muốn
cầu Phật đạo thì từ nơi tâm mà phát ra, trước phải học
rộng các Pháp nhân duyên, rõ được nhân duyên, thì tín tâm
mới bền vững. Vì tín tâm được bền vững nên mới có
thể phát ra được cái tâm tinh tấn, vì có cái sức tinh tấn
nên khỏi tạo ra tất cả nhân duyên nghiệp ác, vì tâm được
thuần thiện nên không buông lung, vì không buông lung nên trí
huệ được thành tựu; vì cái sức trí huệ được thành
tựu nên thâu nhiếp được tất cả ba mươi bảy phẩm trợ
đạo Bồ đề".
Thiên
đế thưa rằng: "Như lời Thầy dạy thì ba mươi bảy phẩm
nghĩa ấy rộng sâu, nếu chẳng phải là cái tâm như con lộc
thì không có thể rõ được. Vậy làm sao vào đặng đạo
hạnh Bồ Tát ư?". Giả Can đáp rằng: "Ta từng nghe thầy ta
nói người tu đạo Bồ Tát trước phải dùng phương tiện
điều phục các căn. Sao gọi là phương tiện? Nghĩa là: sáu
pháp Ba La Mật và pháp Tứ Vô Lượng Tâm, gọi là phương
tiện diều phục các căn".
Thiên
Đế bạch rằng: "Thưa ngài! Sáu pháp Ba La Mật cái nghĩa kia
ra làm sao! Cúi xin ngài nói cho". Giả Can đáp rằng: "Thứ nhất
là Bố thí. Vì bố thí nên phá được cái tâm xan tham không
còn tiếc nuối. Thứ hai là trì giới, nghĩa là: Giữ các điều
lành, không làm những việc ác. Thứ ba là Nhẫn nhục, nghĩa
là: Gặp những việc ác mà tâm có thể nhẫn được, không
ôm lòng báo thù. Thứ tư là Tinh tấn, nghĩa là: Tinh tấn hay
tu hành đạo nghiệp không biếng lười. Thứ năm là Thiền
định, nghĩa là: Hay thâu nhiếp tâm thần không có niệm tà.
Thứ sáu là Trí huệ, nghĩa là: Tu tập trí huệ để chiếu
phá vô minh phiền não tối tăm. Ấy gọi là sáu pháp Ba La
Mật dùng sức phương tiện điều phục các căn. Thế nào
là bốn? - Một là Từ tâm. Hai là Bi tâm. Ba là Hỷ tâm. Bốn
là Xả tâm. Đó gọi là bốn việc, cũng gọi là Tứ Vô Lượng
Tâm".
Thiên
Đế lại hỏi rằng: "Sao gọi là Từ Tâm?". Giả Can đáp:
"Thấy người khổ ách, phải dấy tâm từ đứng ra cứu hộ,
đều khiến cho họ được yên ổn".
Thế
nào là Bi tâm? Nghĩa là: Thấy tất cả chúng sanh bị ái vô
minh nên tạo nghiệp sanh tử chịu cái khổ trong năm đường
không có thể ra khỏi, thế nên chúng ta nay chớ nên biếng
lười, phải thường siêng năng tinh tấn tu tập trí huệ chóng
thành Phật đạo, khi đặng thành Phật đạo ròi thì đem trí
huệ sáng suốt chiếu phá vô minh hắc ám cho chúng sanh khiến
thấy sáng suốt, khỏi cái khổ ràng buộc. Dù chưa thành Phật
nhưng ra làm tất cả nghiệp lành đều hồi hướng cho chúng
sanh. Khiến cho chúng sanh được yên vui. Chúng sanh có tội
thì ta phải chịu thay thế. Đó gọi là "Bi tâm".
Thế
nào là Hỷ tâm? Như thấy người đời tu hành Thiện nghiệp,
cầu quả Tam thừa khuyến khích giúp đỡ tùy hỷ, thấy người
hưởng vui, tâm mình cũng tùy hỷ, thấy người đoan chánh,
thấy người mạnh khỏe, thấy người giàu sang, thấy người
trí huệ, thấy người từ tâm, thấy người hiếu thuận.
Nói tóm lại, là thấy tất cả người làm việc phải rồi
khuyên lơn tùy hỷ, đó gọi là "Hỷ tâm".
Sao
gọi là Xả tâm? Phàm ra làm tất cả công đức, làm ân huệ
cho người mà không trông cầu công đức, làm ân huệ cho người
mà không trông cầu quả báo đời sau và đời sau nữa, đó
gọi là "Xả tâm", thành tựu được bốn việc nên gọi là
Tứ Vô Lượng Tâm. Bởi chúng sanh vô lượng, nên Bi tâm cũng
vô lượng. Bởi chúng sanh vô lượng, nên Hỷ tâm cũng vô
lượng. Bởi chúng sanh vô lượng, nên Xả tâm cũng vô lượng.
Thế nên gọi là Tứ Vô Lượng Tâm luôn với sáu pháp độ
trước, cộng gọi mười pháp Ba La Mật. Mười pháp Ba La Mật
tóm thâu tất cả đạo hạnh Bồ đề".
Khi
đó trời Đế Thích nghe Giả Can nói nhân duyên công đức
pháp tu Thập thiện và lại nghe nghĩa thú nhân duyên của vị
Bồ Tát tu đạo Bồ đề thì mới hết chỗ nghi, vui mừng
khấp khởi rúng động cả thân tâm; tức thời cùng với tám
vạn chư Thiên hầu hạ liền đứng dậy sửa sang cung kỉnh
chắp tay bạch với Giả Can rằng: "Thưa Tôn sư! Ngày nay đệ
tử và tám vạn chư Thiên nhất tâm đồng thời phát tâm Bồ
đề, vâng làm đủ đạo hạnh Bồ Tát như lời thầy dạy.
Cúi xin Hòa thượng tùy hỷ nói cho". Giả Can đáp rằng: "Người
thật đã biết thời như vậy là đúng với cái bổn tâm hy
vọng của ta".
Bấy
giờ, Thiên đế bạch Giả Can rằng: "Thưa Hòa thượng! Hòa
thượng ăn uống pháp dùng thế nào? Cúi xin dạy bảo đẻ
cho chúng con sửa sang cúng dường". Giả Can đáp rằng: Thức
ăn của ta ngươi nghe không hợp. Vì sao? - Bởi tội nghiệp
nhân duyên cho nên những món ăn của ta rất là bất tịnh
(nhơ bẩn) hình giống như súc sanh chẳng khác nào ngạ quỷ,
tốt hơn là đừng hỏi đến món ăn kia". Thiên đế bạch
rằng: "Thưa Hòa thượng! Hòa thượng ăn uống dù tốt cũng
nên nói, dù xấu cũng phải nói, để đệ tử con nay sẽ tùy
theo chỗ thích hợp sửa sang cúng dường".
Giả
Can đáp rằng: "ta từng ăn những phẩn của sư tử hổ lang,
và ăn xương cốt, vải rách, thịt nát của người chết trong
gò mả, rủi gặp cơn đói khát mà không được, có những
món ăn như vậy, thì cũng ăn bùn đất; tội khổ quả báo
suốt đời cho đến khi chết. Tuy đồ ăn bất tịnh mà chưa
từng no đủ".
Khi
ấy, vị Thiên đế Thích cùng cả chư Thiên nghe Giả Can nói
thức ăn uống ấy, rồi buồn thương cảm cách đau lòng rơi
lệ, bạch với Giả Can rằng: "Đệ tử ý muốn dọn mâm cỗ
để sửa sang cúng dường. Nhưng theo lời thầy nói thì chỗ
sở nguyện không mãn, không biết làm sao được. Đệ tử
con nay trở về Thiên cung phải làm phương pháp gì để trả
ơn nặng cho thầy". Giả Can đáp rằng: "Như quý ngài đây,
theo ta nghe pháp, khi trở về cõi trời, lần lựa giáo hóa
khai ngộ chư Thiên chẳng luận nam nữ nhẫn đến một người
khiến cho tín thọ vâng làm, thì của những trả ơn cho ta
mà thôi mà cũng là trả ơn tất cả chư Phật. Tùy thuận
giáo hóa mà tự thêm lớn phước đức chư Thiên, huống chi
là cái phước báu giáo hóa khai ngộ nhiều người thì công
báu vô lượng".
Chư
Thiên đứng dậy bạch với Giả Can rằng: "Đệ tử chúng
con từ nay trở về Thiên cung, nhưng không biết Hòa thượng
chứng nào mới bỏ cái thân tội báo đây, để được sanh
lên cõi trời cùng con thấy nhau?". Giả Can đáp rằng: "Ta hẹn
trong bảy ngày sẽ bỏ thân tội này, rồi sanh lên cõi trời
Đâu Suất. Vậy các ngươi cũng nên nguyện sanh về cõi trời
ấy. Là vì sao? Bởi cõi trời Đâu Suất phần nhiều có các
vị Bồ Tát thuyết pháp giáo hóa cho những người trời muốn
cầu Phật đạo". Thiên đế thưa rằng: "Như lời thầy dạy,
đệ tử chúng con ở cõi trời Đao Lợi chừng phước hết,
mạng chung đều sẽ nguyện sanh lên cõi trời Đâu Suất kia,
con cùng thầy thấy nhau để theo hầu hạ nhờ thầy dạy bảo,
đúng như thề nguyện hôm nay vậy". Chư Thiên nói xong liền
dùng hương hoa ở cõi trời rải trên mình Giả Can rồi từ
biệt lui di. Chư Thiên đi rồi Giả Can vẫn ngồi một chỗ
nhất tâm chuyên niệm pháp Thập thiện, không đi kiếm ăn,
đến bảy ngày mạng chung, sanh lên cõi trời Đâu Suất làm
con vị Thiên vương, còn nhớ được túc mạng lại đem pháp
Thập thiện giáo hóa chư Thiên.
Bấy
giờ, Phật bảo Đại vương rằng: "Đại vương phải biết
Giả Can hồi đó tức là thân Ta bây giờ. Vị trời Đế Thích
hồi đó, tức là Xá Lợi Phất nay đây. Giáo thọ Đại sư
Ưu Ba Đạt của vua A Dật Đa hồi đó tức là ngài Di Lặc
ở cõi trời Đâu Suất bây giờ. Còn tám vạn chư Thiên tức
là tám vạn Bồ Tát ở ngôi bất thối trong cõi Ta Bà quốc
độ này". Phật giáo lại bảo Đại vương rằng: "Ta còn nhớ
thuở xưa, Ta vừa mới phát tâm tu đạo Bồ đề nhẫn đến
Pháp nhẫn Vô sanh ở trong khoảng thời gian ấy Ta thường
cùng với Di Lặc, Xá Lợi Phất v.v... Vì cầu pháp nên Ta siêng
năng tinh tấn không đoái đến thân mạng theo dõi Minh sư,
gần gũi hầu hạ, tinh nghiêm học vấn thành tựu được trí
huệ; vì nhờ sức trí huệ, nên ở trong năm đường tùy sanh
ra chỗ nào đều giáo hóa thành tựu vô lượng chúng sanh,
khiến cho chúng sanh được khỏi khổ cho đến khi thành Phật;
đều nhờ Bát Nhã trí huệ phương tiện mà đoạn trừ tất
cả nhân duyên kiết tập, thành bậc Chánh đẳng Chánh giác;
rồi lại đem trí huệ ở trong cõi Ta Bà quốc độ này giáo
hóa chúng sanh khiến khỏi cái khổ trong ba cõi. Thế cho nên
Ta nói Bát Nhã trí huệ có bốn danh nghĩa".
Khi
bấy giờ, vua Ba Tư Nặc và cả quyến thuộc nghe Phật nói
rồi thì tâm ý mở tỏ liền đứng dậy làm lễ vui mừng
khấp khởi: Đứng chắp tay bạch Phật rằng: "Thưa Thế Tôn!
Hôm nay con gặp Phật được nhiều thiện lợi; nghe Phật nói
pháp không biết chán nản. Sở dĩ vì sao? Vì Đức Thế Tôn
trước nói bốn pháp Chơn Đế và pháp Thập Nhị Nhân Duyên
là cái đạo xuất thế gian, nhưng vì căn tánh ám độn mê
man không hiểu, do vì không hiểu cho nên thân thể mỏi mệt.
Nay nghe Phật nói cái pháp tu của Bồ Tát; tuy chưa hiểu hết
song lòng con rất ham mộ khao khát muốn nghe tâm không nhàm
đủ. Đệ tử nay muốn phát tâm Bồ đề, cầu đạo Vô thượng.
Cúi xin Đức Thế Tôn thương xót hứa cho và dạy bảo pháp
tu theo Bồ Tát để cho chúng con y theo pháp tu hành".
Phật
bảo vua rằng: "Này Đại vương, pháp tu Bồ Tát như trên đã
nói rõ. Thân, khẩu, ý nghiệp làm theo mười điều lành và
pháp Ba La Mật tóm thâu tất cả pháp trợ Phật đạo, Đại
vương có thể làm được không?". Vua đáp rằng: "Như lời
của Thế Tôn nói pháp tu Thập thiện và ba giới của tâm
thật rất khó giữ gìn, phải làm thế nào thọ rồi đừng
cho quên mất?".
Phật
bảo vua: "Tâm người đời như con lộc lại cũng thí như con
viên hầu, vì bị những ngọn gió phiền não thổi rung động,
thế nên muốn tu pháp Thập thiện không đặng chậm trễ vậy.
Tu pháp Thập thiện phải có hạn trong ba thời. Sao gọi là
ba thời? Nghĩa là sáng sớm đến bữa ăn ngọ gọi là thượng
thời; ăn xong một bữa gọi là trung thời; đi một bước
là hạ thời. Thọ pháp Thập thiện tùy theo chỗ lãnh được
pháp nào, ở trong thời đây toan giữ tâm mình, ba giới cho
bền vững đừng cho lọt mất, thế nên gọi là pháp tu Thập
thiện".
Vua
nói rằng: "Như Thế Tôn nói cái công đức tu Thập thiện
hạn trong ba thời rất ít, thì làm sao sanh được phước?".
Phật bảo vua rằng: "Người tu pháp Thập thiện, thời giờ
ngắn mà công đức rất nhiều. Vì sao? Vì ba giới của tâm
rất khó giữ gìn, tuy giữ gìn trong giây lát mà được quả
báo vô lượng, thí như có người ở trong trăm năm chất đống
củi rơm, dùng lửa đốt đó thì trong giây phút, thảy đều
cháy hết.
Thế
cho nên phải biết rằng: "Tu pháp Thập thiện thời giờ rất
ít mà có thể diệt được vô lượng tội trọng ác nghiệp.
Như người dò lửa chuyên cần dụng lực trong giây phút được
lửa, mà công lực của lửa ấy có thể đốt cỏ cây rừng
bụi trong thiên hạ chỉ trong chốc lát đều cháy sạch. Đại
vương phải biết, người tu pháp Thập thiện cũng lại như
thế. Vì tu trong giây phút mà có thể diệt hết vô lượng
tội trọng ác nghiệp; và hay khiến cho người tu nứt mộng
Bồ đề. Mầm mộng Bồ đề đã nứt nảy dần dần thêm
lớn cho đến khi thành Phật quả".
Vua
nghe Phật nói lời ấy rồi liền đứng dậy làm lễ tất
cả vui mừng đặng chưa từng có. Bèn bạch với Đức Thế
Tôn rằng: "Thưa Thế Tôn! Đệ tử con nay được nhiều thiện
lợi. Sở dĩ vì sao? Bởi nghe Đức Thế Tôn nói nhân duyên
công đức tu pháp Thập thiện hay khiến cho chúng sanh thành
tựu mộng Bồ đề. Đệ tử con nay, chí thích Bồ đề sẽ
siêng năng tu hành, tâm không lui sụt".
Khi
Phật nói xong, những kẻ theo hầu vua như quần thần, quan
dân, hậu cung, thể nữ, Phu nhân cùng bốn bộ đệ tử Thiên
long, Quỷ thần, Nhơn và Phi nhơn v.v... hơn năm nghìn người
phát tâm cầu đạo Vô thượng Bồ đề.
Khi
ấy, vua Ba Tư Nặc và bà Đại Phu nhân hễ lúc ra vào đi đến,
cũng thường sai bốn người sức lực rất mạnh tên là Phiến
Đề La; sai bốn người này khiêng kiệu cho Hoàng hậu. Hoàng
hậu ngồi trên kiệu bằng thất bảo để ở ngoài Tinh xá
Kỳ Hoàn, bảo các người Huỳnh môn canh gác, các người Huỳnh
môn giao lại cho bốn người Phiến Đề La còn mình thì đến
chỗ Phật nghe pháp. Bọn Phiến Đề La đều nằm dưới kệ
ngủ mê không hay chi cả, lúc đó có kẻ hung nhân trộm lấy
ngọc ma ni châu trên kiệu báu của hoàng hậu.
Khi
ấy, các người Huỳnh môn tạm ra xem kiệu nhưng không thấy
bảo châu, trong lòng kinh hãi sợ Hoàng hậu quở trách, liền
bảo bốn người Thạch nữ rằng: "Ta sai các ngươi coi chừng
kiệu cớ sao trộm lấy ngọc bảo châu". Trong bốn người
thưa rằng: "Thật chúng tôi không thấy". Huỳnh môn nổi giận
lấy roi đánh các người Thạch nữ đau nhức thấu xương,
trong đó có một người Thạch nữ biết mình không có trộm
mà chịu oan bèn bỏ tuôn chạy xen vào Tinh xá la to kêu oan.
Mọi người nghe nhưng không biết việc chi.
Phật
bảo A Nan: "Ngươi hãy đi đến chỗ các người Huỳnh môn
kia, bảo đừng đánh oan cho người vô tội. Vì sao thế? Vì
bốn người Thạch nữ ấy chính là thầy đời trước của
Hoàng hậu. Chúng đã là kẻ vô tội, vì sao bị đánh đập;
đó là tự gây nhân duyên nghiệp ác cho đời sau". Bấy giờ
Hoàng hậu nghe Phật nói lời ấy rồi, liền đứng dậy cung
kỉnh chắp tay bạch Phật rằng: "Bạch Đức Thế Tôn! Như
lời Thế Tôn nói té ra bốn người Thạch nữ khiêng kiệu
cho con đây, chính là thầy đời trước của con. Nhưng vì
con mê muội nên không rõ, cúi xin Thế Tôn giải bày những
nhân duyên ấy, cho các người trong hội đây đều được
nghe biết?". Phật bảo: "Hoàng hậu kêu các người Thạch nữ
đến trước Thế Tôn để Ta nghiệm xét chỗ hư thật".
Hoàng
hậu vâng mạng liền sai Huỳnh môn bắt hết đem đến; khi
ấy bốn người Thạch nữ vừa trông thấy Phật cúi đầu
rơi lụy, quỳ gối chắp tay, Bạch Thế Tôn rằng: Thật con
không có trộm lấy ngọc châu, nhưng không biết vì lẽ gì
bắt oan tội ấy, đánh đập làm thân thể con tan nát". Đức
Thế Tôn đáp: "Tội nghiệp nhân duyên tự thân mình gây tạo
ra, chớ không phải cha mẹ làm tội".
Bấy
giờ, cả chúng Bồ Tát vô lượng ức người, ở trên hư
không trong tâm đều vui mừng, rải các hoa hương tươi đẹp
vô cùng, để xông sạch các uế trược trần lao cho chúng
sanh. Thiên vương ở cõi trời Tự Tại cũng rất vui mừng,
ở trên không và ngàn ức chúng đều hết lòng cung kính rải
các diệu y; các trời Phạm Thiên lặng lẽ, lấy làm quý lạ,
đồng nhất tâm tự quy. Các vị Tiên nữ tư dung tươi đẹp
vô cùng, đánh các thứ kỹ nhạc, trăm ức triệu người cũng
lại làm lễ. Cả thảy đều diễn ra những lời tuồng như
quyến thuộc của Đức Thế Tôn ngồi khắp cõi Phật. Những
hào quang tỏa đều chiếu các cõi; bao nhiêu triệu ức thân,
bao nhiêu hào quang nhu nhuyến, bao nhiêu pháp giới không có
chỗ nào mà không thông suốt cả, Đức Như Lai là bậc chí
chơn, mỗi một chân lông phóng ra một tia hào quang. Hào quang
ấy sáng tỏ diệt hết những trần cấu của chúng sanh, những
bụi trần ở các cõi nước, còn có thể đếm số được
mà số người trong chúng hội đây không thể đếm được.
Có
khi thấy thân Phật, các tướng nhiệm mầu mà cũng như thấy
các vị Chuyển Luân đi lại các nước làm những việc cao
thượng, rất tốt tuyệt vời, hoặc có người thấy các vị
Thánh nhân, hoặc thấy các vị Đại Thần lớn ở cõi trời
Đâu Suất hiện xuống mẫu thai, rồi lại sanh ra; tuy ở trong
thai cũng hiện ra vô số ức cõi nước, hễ Ngài sanh ra chỗ
nào thì chỗ ấy hiện thành cõi Phật. Cái bổn nguyện của
bậc Đại sư là vì chúng sanh mà phải xuất gia tu thành Phật
đạo, thành bậc tối Chánh Giác, vận chuyển pháp luân, hiện
ra các cõi Phật, vô số ức cõi vì cũng như thầy huyễn sư,
học giỏi nghề chú thuật, tùy theo thọ mạng đến đâu hiện
ra vô số pháp; chỗ trí tuệ tu học của Đức Thế Tôn cũng
như vậy.
Là
vì chúng sanh nên phải xuất gia, ở trong cảnh rỗng rang vắng
lặng, vẫn là vô tướng, các pháp bình đẳng, cũng như hư
không; giáo giới của Phật rất lợi ích. Vốn ở trong chỗ
không mà hiện ra chỗ có, rất nhiệm mầu. Phật đi đến
chỗ nào thì chỗ ấy được yên ổn, đó đều là tự nhiên
thương xót chúng sanh; nên nói ra kinh điển là tướng của
tất cả pháp nhưng thấy cái tướng của tất cả pháp đều
bình đẳng đệ nhất vô tướng, các nghĩa của Thế Tôn theo
chỗ Thánh huệ của Ngài, đều bỏ các hình tướng hữu tướng
và vô tưởng, rõ các hình tướng đều bình đẳng, mau được
thành tựu ngồi ở trước mọi người diễn ra những tiếng
tăm như vậy, triệu ức vô cùng lời nhân từ hòa nhã, ở
đời thì hàng phục các loài ma Thiên nữ.
Do
Ngài biết trong chúng hội chí chơn vắng lặng, như mặt trăng
sáng tỏ, chiếu diễn ra bao nhiêu phẩm; thời các hàng Phật
tử tu tập theo, sự nghiệp của bậc Đại thừa thì cần
nêu ra làm các công quân sự nghiệp cho mọi nhà, để ai nấy
được thấy điềm lành đem đến, trong tâm rất vui mừng,
Thánh huệ của bậc Đại nhân, ca tụng vang rền từ trên
trời rơi xuống; những người làm lành hay làm ác đến khi
thọ báo cũng có khổ có vui, như vang dội tiếng, cũng như
tham lợi hiện tiền tâm làm việc tà siểm, không biết có
đời sau, nhiều kiếp chịu khổ. Vả luận ác từ nơi tâm
sanh ra, trở lại hại mình, cũng sắt sanh ra sét, sét tự tiêu
mòn hình thể của sắt.
Bấy
giờ, vua lại vòng tay bạch Phật: "Bạch Đức Thế Tôn, từ
trước đến nay, thuyết pháp đều có nhân duyên. Nay bốn
người Thạch nữ đây, bổn nguyện đời trước có nhân duyên
gì? Xin Phật vì con và đại chúng giải nói để khai ngộ
cho kẻ mờ ám được hiểu, thêm nhiều lợi ích và mọi người
được nhờ cậy".
PHẬT
NÓI KINH NHÂN DUYÊN CHƯA TỪNG CÓ
HẾT
QUYỂN TRƯỚC
ĐỨC
PHẬT THÍCH CA
NÓI
KINH NHÂN DUYÊN CHƯA TỪNG CÓ
QUYỂN
SAU
Đời
Tiêu Tề, Ngài Tam Tạng Sa môn THÍCH ĐÀM CẢNH dịch
Phật
bảo vua rằng: "Muốn nghe rất hay, hãy để lòng lóng nghe Ta
vì ngươi chỉ vẻ nói cho".
Phật
lại nghĩ rằng: "Trong Chánh pháp của Ta có các thầy Tỳ -
kheo, lời nói, việc làm, không giống nhau, ý nghĩ miệng nói
trái nhau. Song cũng xuất gia học đạo, hoặc vì lợi dưỡng,
tiền tài ẩm thực; hoặc vì tiếng khen và muốn đông nhiều
bà con; hoặc có người nhàm chán pháp vì Vua sai khiến mà
đi xuất gia học đạo; chớ không có tâm cầu ba pháp môn
giải thoát để khỏi cái khổ trong ba cõi; đem tâm bất tịnh
thọ cúng dường; không biết rằng đời sau nhiều kiếp chịu
khổ đền bù nợ trước; vì những lẽ ấy đâu không nói
sao được".
Phật
bảo vua rằng: "Ta nhớ hồi quá khứ từ vô số kiếp có một
nước lớn tên là Bùi Phiến Xà, có một nữ nhân tên là
Đề Vi cũng là giòng giống Bà-la-môn; chồng chết ở góa,
nhà rất giàu mà không con cái, lại không cha mẹ, côi cút
quạnh hiu không ai nhờ cậy. Theo phép Bà-la-môn: nếu việc
chi không được như ý liền sanh ra sự thiêu thân".
Các
thầy Bà-la-môn thường thường rủ nhau đi đến nhà Đề
Vi mà giáo hóa rằng: "Các việc khổ đời nay đâu không bởi
tội nghiệp đời trước của ngươi. Sao gọi là tội? Nghĩa
là bởi không cung kỉnh các thầy Bà-la-môn; không hiếu thuận
cha mẹ, chồng con; lại không có từ tâm nuôi dưỡng con cái;
những tội như thế nên đời nay côi quạnh chịu khổ. Ngươi
nay nếu không tu phước cho hết tội thì đời sau chịu khổ
đến nỗi đọa vào địa ngục; đương khi đó làm sao ăn
năn cho kịp".
Bà
Đề Vi hỏi rằng: "Phải làm phước gì được hết tội cho
ư?".
Các
thầy Bà-la-môn nói rằng: "Muốn hết tội có hai cách. Một
là: người tội nhẹ thì tự tay gội đầu, lấy nước thơm
tắm gội rồi vào trong Thiên Miếu sám hối từ tạ với trời
Na La Diên; thỉnh đủ một trăm thầy Bà-la-môn thiết đãi
ăn uống, ăn uống xong rồi lại dùng một trăm con bò cái
mới đẻ con mà dâng cúng cho các thầy Bà-la-môn vậy sau sẽ
hết tội. Sở dĩ vì sao? Vì các thầy Bà-la-môn là người
tịnh tu phạm hạnh, không ăn tửu nhục, hành, tỏi... ngũ
vị tân, chỉ dùng sữa bò để làm thức ăn, khiến nhà thí
chủ đàn việt hết tội sanh phước, đời đời sanh ra sở
nguyện tùng tâm.
Như
người nay tội nặng phải lấy tất cả đồ quý báu chỗ
có trong nhà mà cúng thí cho năm trăm thầy Bà-la-môn. Các thầy
Bà-la-môn đặng của cúng thí rồi sẽ vì đó mà chú nguyện
khiến cho đời sau thường đặng giàu to. Hai là: người nào
muốn hết tội nặng thì nên đến bên sông Hằng, chất củi
tự thiêu; các thầy Bà-la-môn sẽ lại chú nguyện, khiến
cho đời trước người chỗ tạo tất cả tội nặng nhẹ,
đồng thời tiêu hết, đời sau sanh ra không còn cái khổ sống
lâu không lường, khoái lạc không cùng, cha mẹ, anh em, vợ
chồng, con cái vui vầy sum họp".
Khi
ấy bà Đề Vi liền ưng thuận, theo quyết định nhất tâm
sẽ tự thiêu thân, bèn sai tôi tớ trong nhà đem mười cỗ
xe vào trong núi đốn củi để làm phép thiêu thân.
Khi
bấy giờ, trong nước có một vị Đạo nhân tên là Bát Đề
Bà tinh tấn trì giới, đa văn trí huệ thường đem từ tâm
giáo hóa thiên hạ khiến ai ai cũng cải tà quy chánh, bỏ dữ
làm lành. Ngài nghe đồn bà Đề Vi muốn tự thiêu thân sanh
lòng thương xót, đi đến chỗ kia hỏi bà Đề Vi rằng: "Sắm
sẵn củi lửa muốn làm việc gì?".
Bà
Đề Vi đáp rằng: "Muốn tự thiêu thân để diệt hết tội
khổ". Biện Tài nói rằng: "Tội nghiệp đời trước tùy theo
tinh thần không theo với thân, thiêu thân chịu khổ mà nào
được hết tội".
Luận
như người họa phúc từ tâm mà có; hễ tâm niệm thiện,
hưởng cái quả báo thiện; hễ tâm niệm ác, thì chịu cái
quả báo ác, tâm niệm khổ vui, thì chịu cái quả báo khổ
vui. Ví như người chết đói thời làm quỷ đói; người chết
khổ não thì chịu cái quả báo khổ não; người chết hoan
hỷ thì chịu cái quả báo hoan hỷ; an ổn khoái lạc quả
báo cũng như vậy. Ngươi nay làm sao ở trong vòng khổ não,
mà muốn hết tội, mong được cái quả báo lành. Rất là
vô lý? Thôi! Đừng làm tốt hơn!
Lại
này nữa Đề Vi, như người bệnh khổ trong khi bị khổ ép
bức, nếu có người ác đi đến chỗ đó mắng nhiếc người
bệnh, rồi lấy tay xách lỗ tai. Vậy đối với ý ngươi nghĩ
sao? Người bệnh lúc ấy, dù có thiện tâm, nhưng khỏi buồn
giận chăng?".
Đề
Vi đáp rằng:"Người bệnh khổ kia lúc chưa thấy ai, còn ôm
lòng buồn rầu, huống chi bị xách lỗ tai, mà hòng không giận".
Biện
Tài đáp rằng: "Người nay cũng như vậy. Vì tội đời trước
nên nay phải cùng khổ quạnh hiu thường ôm lòng lo buồn,
lại muốn đốt thân, lìa khỏi sự buồn khổ, đâu có thể
được ư? Ví như người bệnh khổ, bị người mắng nhiếc
thì càng thêm khổ não, trăm ngàn vạn bội. Huống chi là khi
thiêu thân, lửa dữ bốc cháy, thân thể cháy tiêu, trong khi
hơi thở chưa dứt, tâm chưa hư hoại; đương khi thân tâm
bị đốt đó, thần thức chưa lìa, cho nên chịu khổ não
tâm buồn phiền muộn, từ đó mạng chung, sanh trong địa ngục,
chịu cái khổ trong địa ngục, càng thêm thảm kịch, gấp
trăm ngàn vạn phần cầu ra không khỏi; huống chi là muốn
thiêu thân để cầu lìa hết khổ?!
Lại
nữa này Đề Vi, thí như con trâu kéo xe nhàm chán sự mệt
nhọc, muốn phá cho hư xe nhưng xe trước nếu hoại thì xe
kết sau đó lại tròng ách vào cổ, vì tội trâu chưa hết.
Ngươi nay cũng lại như vậy. Dù cho thiêu hoại trăm ngàn muôn
thân, song tội nghiệp nhân duyên tiếp nhau không dứt. Ví như
những người ở trong địa ngục A Tỳ bị thiêu đốt, trong
một ngày tám muôn lần chết, tám muôn lần sống, trải qua
một kiếp rồi, tội kia mới hết. Huống chi ngươi nay mà
đốt thân một lần, mà muốn cầu hết tội, đâu lý đặng
ư?".
Khi
bấy giờ, Biện Tài mỗi món nhân duyên vì nói Chánh pháp.
Đề Vi nữ nhân, tâm ý mở tỏ, liền đổi chí nguyện hết
nghĩ thiêu thân, thưa với ông Biện Tài rằng: "Vậy con phải
làm phương pháp gì mới hết tội?". Ông Biện Tài đáp rằng:
"Tâm trước tạo ác ví như đám mây che phủ mặt trăng tâm
sau khởi thiện, thì cũng như cây đuốc sáng, làm cho tiêu
hết bóng tối. Ngươi nay may có cái ý muốn hết tội, thì
sẽ có phương tiện, nay có thể khiến cho ngươi, không tốn
một đồng tiền, nhẫn đến không bị một chút khổ, diệt
hết tội khổ, hiện đời được yên ổn, đời sau sanh ra
chỗ nào, thì thiện nguyện tùng tâm".
Bà
Đề Vi nghe rồi, tâm rất vui mừng, sự sợ hãi liền dứt,
như người tù mắc tội nặng, mong được ân xá ra khỏi,
bèn đứng dậy sửa sang cung kỉnh lễ bái hỏi han, lại dạy
những người trong nhà, sửa dọn một cái tòa cao, có đủ
mền nệm khảm đệm gấm nhiễu, hàng lụa tôn nghiêm bậc
nhất, rải hoa đốt hương, cầu thỉnh ông Biện Tài lên tòa
cao. Ông Biện Tài thọ thỉnh liền lên tòa. Lúc Đề Vi nữ
nhân cùng cả quyến thuộc trong nhà có hơn năm trăm người,
nhóm lại đi nhiễu xung quanh ông Biện Tài rồi cung kỉnh cúi
đầu chắp tay. Đề Vi nữ nhân thưa với ông Biện Tài rằng:
"Vừa nghe lời thầy nói sự hết tội, tâm con rất vui mừng,
nhưng tâm còn có chút nghi. Cúi xin thầy nói cái pháp trừ
tội, để cho con y như pháp mà tu hành". Ông Biện Tài nói
rằng: "Nguyên do tạo tội là ở nơi thân, khẩu, ý. Thân có
ba nghiệp không lành là: Sát, đạo, dâm. Miệng có bốn nghiệp
không lành là: Vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu.
Ý có ba nghiệp không lành là: Tật đố, sân nhuế, kiêu mạn,
tà kiến, ấy là mười nghiệp ác, phải chịu cái quả báo
ác. Nay ngươi phải nhất tâm thành thật sám hối; dù cho đời
nay có những tội như vậy, nay đều sám hối tất cả thì
được khỏi tội và hết tội".
Ngươi
phải lập cái lời thệ, từ đây về sau không dám tái phạm
và vì tiền nhân, cha mẹ, anh em với chồng của chúng con,
chỗ có tội lỗi, con nay nhất tâm sám hối, bỏ dữ làm lành,
chỗ có phước đức nhân duyên đều thí cho tất cả chúng
sanh chịu khổ, khiến cho được yên vui, nếu chúng sanh có
tội con xin chịu thay thế.
Lại
lập lời thệ rằng: "Ngày nay con nhờ cải tà về chánh, hối
tội tu phước, do nhân duyên đây, bỏ thân này, thọ thân
khác, cho đến khi thành Phật thường gặp Minh sư, gặp Thiện
tri thức thọ mạng không lường, thường cùng cha mẹ, chồng
vợ, con cái sáu thân quyến thuộc, thường giúp đỡ nhau,
không bị khổ hoạn như ngày hôm nay vậy". Ông lại bảo Đề
Vi nữa rằng: "Những pháp như thế đều là cái pháp Hối
quá diệt tội".
Bấy
giờ, Đề Vi và cả quyến thuộc, đối với ông Biện Tài,
quỳ gối chắp tay thưa với ông Biện Tài rằng: "Đệ tử
thưa với ông Biện Tài rằng: "Đệ tử chúng con vâng lời
thầy dạy bảo, đã như pháp sám hối rồi; vậy cúi xin thầy
dạy chúng con pháp lành khác, chúng con sẽ siêng năng vâng
làm, để tăng thêm công đức". Ông Biện Tài bảo rằng: "Ngươi
nay phải thành tâm quy Phật, quy Pháp, quy Tỳ - kheo Tăng, nói
như vậy ba lần".
Nói
nay con trọn dời vâng lãnh pháp Thập thiện và nói như thế
này: Đệ tử con pháp danh là... từ nay đến trọn đời không
sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm ấy là Thiện nghiệp
của thân. Không vọng ngôn, không ỷ ngữ, không lưỡng thiệt,
không ác khẩu ấy là Thiện nghiệp của khẩu. Không tật
đố, sân nhuế, kiêu mạn, tà kiến ấy là Thiện nghiệp của
ý. Thế nên gọi là Thập thiện giới pháp.
Khi
bấy giờ, ông Biện Tài truyền trao cho bà Đề Vi pháp Thập
thiện rồi thì bà Đề Vi và cả quyến thuộc, vui mừng khấp
khởi, hết lòng phụng hành, nữ nhơn Đề Vi lại vì thiết
đãi đủ trăm thức đồ ăn uống, và bao nhiêu của quý rồi,
đối trước ông Biện Tài quỳ gối chắp tay thưa rằng: "Cúi
xin thầy gia tâm thương xót giáo hóa, nay con sẽ vì thầy dựng
lập cung xá, tùy theo chỗ thích hợp trọn đời phụng sự
thầy". Ông Biện Tài đáp rằng: "Ngươi nay dã có thể bỏ
tà về chánh, tròn tu pháp Thập thiện, làm con vị Pháp vương.
Vậy thì ngươi nên đem pháp Thập thiện, giáo hóa trong thiên
hạ cũng gọi là đền trả ơn nặng cho thầy rồi. Ngươi
nay đã đắc độ rồi, ta không cần phải ở lại ta nay còn
phải đi đến chỗ khác giáo hóa nữa".
Lúc
bấy giờ, Đề Vi biết thầy không ở lại, liền đem xe chở
những của báu trong kho, đem dâng cho thầy, mong thầy nhận
lãnh. Song ông Biện Tài không thọ mà từ tạ lui đi. Khi đó,
Đề Vi tự tâm nghĩ rằng: "Cái sự giúp sống cho ta ngày nay
đâu không nhờ Tôn sư Hòa thượng khai ngộ mới đặng thành
tựu, ơn nặng dạy bảo, nếu thỉnh không ở lại và cũng
không thọ của báu thì phải làm sao?". Buồn cảm thương tâm,
đôi hàng giọt lệ, cúi đầu từ tạ phân tách ra đi. Sau
khi ông Biện Tài đi rồi, nữ nhân Đề Vi cùng cả quyến
thuộc hơn năm trăm người thường đem pháp Thập thiện lần
lựa cùng nhau giáo hóa trải qua nhiều ngày.
Khi
bấy giờ, trong nước bỗng gặp gạo mắc, nhân dân đói khát,
khi đó có năm vị Tỳ - kheo, lười biếng giải đãi, không
tham học hỏi giáo lý, kinh luật, lại không chuyên tu, trì
giới, tinh tấn, nên người đời khinh dể không cúng dường,
nghèo cùng khốn khổ không có kế gì sống được. Năm người
bàn rằng: "Vả luận người ta mưu sống, tùy thời thay đổi
hình dạng, mạng người rất chí trọng, không lẽ chịu chết".
Mỗi người đều đi xin, sắm được tọa cụ, giường dây,
tìm chỗ đồng trống quét dọn sạch sẽ, rải hoa, treo tràng
phan rực rỡ y theo thứ lớp mà ngồi; ngoài thân giả bộ
như thiên tướng, trong tâm thì tà trược. Người đời trông
thấy đó tưởng là Thánh nhân, đem đến cúng dường trăm
thứ đồ ăn uống, xúm lại cúng dường; thế là năm người
no đủ có dư.
Khi
bấy giờ, bà Đề Vi nghe việc ấy rồi liền sai người dọ
hỏi. Người đi dọ tin rồi về thưa rằng: "Có năm vị Thánh
nhân ngồi riêng trong núi, người ta xúm lại hầu hạ như
hầu hạ vị Thiên thần".
Đề
Vi nghe rồi, trong tâm rất hoan hỷ, mà tự mừng rằng:"Nguyện
ta đã mãn vậy". Đoạn sáng mai sai người sắm sửa bảo xa,
hương hoa kỹ nhạc, trăm thứ thức ăn đi đến chỗ năm thầy
Tỳ - kheo.
Đề
Vi đến đó rồi làm lễ hỏi han, thiết đãi cúng dường;
ăn uống xong. Đề Vi và quyến thuộc cung kính chắp tay thưa
với năm thầy Tỳ - kheo rằng: "Đức thầy rất lớn, bậc
Vô thượng phước điền chúng sanh nhờ cậy, không dám tự
khinh; theo ý ngu kẻ Đệ tử này muốn thỉnh Tôn linh, quang
lâm đến bần xá, để tỏ chút lòng thành cúi xin thương
xót, giúp kẻ quần sanh; đệ tử cũng có vườn cây thanh tịnh,
suối trong ao tắm, đẹp đẽ tươi sáng".
Bà
Đề Vi và cả quyến thuộc, cúi đầu đôi ba lần cầu thỉnh.
Khi ấy năm thầy Tỳ - kheo biết bà chí thành mới hứa chịu
đó. Đề Vi hoan hỷ từ tạ trở về nhà, sai người chưng
dọn xe báu, đến rước năm thầy Tỳ - kheo về nhà để cúng
dường. Nữ nhân Đề Vi có vườn cây tốt đẹp, cách nhà
không bao xa. Miếng vườn kia vuông vức được mười mẫu,
trong đó có suối trong, ao tắm hoa thơm quả lạ, lại có những
thứ chim rất đẹp như là: chim Giao tịnh, chim Oan ương; ở
trong phòng kia dựng lập phòng nhà, xây đắp bằng bảy báu,
trong phòng nhà kia sắm đủ giường nằm chiếu nệm và những
tọa cụ tốt đẹp, thơm sạch bậc nhất, rồi mời thầy
Tỳ - kheo về ở trong đó. Nữ nhân Đề Vi trọn đời cung
cấp phụng sự, mùa nào thức nấy đồ ăn uống, thuốc thang
cúng dường hầu hạ không sái thời giờ.
Khi
ấy, năm thầy Tỳ - kheo đã được chủ nhân ân hậu cúng
dường, an ổn sung sướng mà tự nghĩ rằng: "Có gì yên ổn
cho bằng. Luận như người sanh ra ở đời phải dùng đủ
thứ phương thế tìm kiếm tiền của để giúp cơn nghèo ngặt;
tuy đặng như ý nhưng cũng không bằng bọn chúng ta, đã chẳng
nhọc thân mà lại được hưởng phước lộc, đâu không nhờ
sức trí huệ đó hay sao?"(1)
Năm
thầy Tỳ - kheo kia xét thấy chủ nhân hết lòng trọng đãi,
mới cùng nhau bàn rằng:"Tuy đặng chủ nhân tùy nghi cúng dường
mỗi ngày giàu to nhưng tính đến năm nghèo như cái năm đói
rét, thì không có thể giúp cho người được giàu vui; vậy
bọn ta phải ra phương tiện để tìm kiếm tiền của, dành
dụm thời sau mà hưởng cái sự vui ngũ dục".
Bàn
như thế rồi, liền cùng nhau thay đổi, sai một người đi
dạo trong các làng xóm, rao nói với các người, xướng cái
lời như thế này:
"Bốn
thầy Tỳ - kheo kia, yên ở một chỗ vắng lặng giữ gìn giới
cấm dứt hẳn rượu thịt, không ăn hành tỏi đáng bậc phạm
hạnh; tu thiền chỉ quán chứng nghiệp vô lậu; tu hành không
bao lâu sẽ thành quả A la hán, thật là bậc Vô thượng phước
điền trong thiên hạ".
Những
người nghe lời ấy rồi, đua nhau xúm lại mang đến đủ
thứ tiền tài ẩm thực, cung kính cúng dường, như thế nhiều
năm. Còn nữ nhân Đề Vi một lòng kính tin, cứ việc tùy
nghi cúng dường hoan hỷ không chán. Mãn kiếp trọn đời được
sanh lên cõi trời Hóa Lạc.
Còn
năm vị Tỳ - kheo kia, chuyên làm việc xảo ngụy, vì tâm tà
trược, nên khi phước hết mạng chung, sanh vào đại ngục;
tám nghìn ức kiếp chịu cái quả báo rất khổ. Tội địa
ngục hết rồi phải chịu thân ngạ quỷ, ly mỵ, vọng lượng,
lần lựa như thế trải qua tám nghìn kiếp; tội ngạ quỷ
hết rồi, lại chịu cái thân lục súc sanh, để đền trả
của cúng dường đời trước cho chủ nhân.
Nhân
duyên nghiệp báo, hoặc làm lạc đà, lừa, trâu, ngựa, tùy
theo chủ nhân chỗ thọ phước gì thì thường đem sức mạnh
để đền trả cho chủ nhân, lần lựa như thế cũng đến
tám nghìn đời; tội súc sanh hết rồi tuy đặng thân người,
nhưng các căn ám độn, nam cũng không phải nam, nữ cũng không
phải nữ, gọi đó là Thạch nữ: Từ đây sắp về sau, trải
qua trong tám nghìn năm, thường đem sức mạnh đền trả cho
chủ nhân, đến nay chưa hết.
Phật
bảo vua rằng: "Đề Vi khi đó là Hoàng hậu đây vậy. Ông
Biện Tài khi đó là Mục Liên đây vậy. Còn năm thầy Tỳ
- kheo, tức là năm người bọn Phiến Đề La theo hầu hạ
khiêng kiệu cho bà Hoàng hậu hôm nay đây".
Vua
bạch Phật rằng: "Theo như lời của Đức Thế Tôn nói thì
nhơn có năm người, mà nay thì chỉ thấy có bốn người khiêng
kiệu còn một người nữa ở chỗ nào.
Phật
bảo vua rằng: "Còn một người nữa, người ấy thường ở
trong cung quét dọn cầu xí, tức là người đổ phân đó vậy".
Hoàng
hậu nghe rồi rùng mỉnh rởn ốc, ôm lòng kinh sợ, liền đứng
dậy làm lễ Phật, đứng hàu chắp tay mà bạch Phật rằng:
"Thưa Đức Thế Tôn! Như lời của Đức Thế Tôn nói, té
ra bọn Phiến Đề la là nhân duyên thầy của con đời trước,
lòng con thiệt rất lo sợ, sợ là sợ phạm tội nghịch. Sở
dĩ vì sao? Vì luận người là bậc thầy, thì phải cung kỉnh
đầu đội lễ bái mới phải lẽ vậy. Mà nay trở lại sai
khiêng kiệu không khác gì trâu ngựa. Vì nhân duyên đó nên
lòng con rất lo sợ, cúi xin Phật thương xót dạy con sám hối".
Phật
bảo Hoàng hậu rằng: "Bởi Hoàng hậu có phước đức, vốn
không có tội lỗi cớ sao nghi sợ. Chúng sanh tánh khác, hạnh
nghiệp không giống nhau, làm lành thì hưởng phước, làm ác
thọ tai ương. Hoàng hậu đời trước nhất tâm thanh tịnh
tin ưa làm phước, nhân duyên phước đức như thế, bởi bao
nhiêu đời trước sanh ra thường gặp Minh sư, tin thọ lời
giáo huấn, gặp lành làm lành gặp phước làm phước, cho
đến ngày nay hưởng phước tự nhiên gặp Phật ra đời,
là vì nhờ phước đức nhân duyên đời trước. Lại nghe
Chánh pháp như thuyết tu hành, do nhân duyên đó nên không có
tội lỗi chi.(2)
Bởi
nhân duyên năm người bọn Phiến Đề La, là do họ thuở trước
gian dối nịnh hót không có từ tâm, mà hưởng của người
cúng dường. Nhân duyên tội nghiệp đền trả nợ đời trước.
Hoàng
hậu bạch rằng: "Thưa Đức Thế Tôn! Nay con nghe Phật nói
nhân duyên bổn nghiệp, đệ tử hết nghi không còn lo sợ
nữa. Nhưng không biết nhân duyên tội nghiệp của bọn Phiến
Đề La này, chừng nào mới hết vậy? Đệ tử con nay xin tha
thứ bọn Phiến Đề La, không dám sai khiến nữa, tùy ý muốn
đi đâu thì đi. Cúi xin Đức Thế Tôn thuyết pháp khai hóa,
khiến cho tâm bọn ấy hiểu đạo, cải ác tu thiện, mau được
khỏi khổ".
Phật
bảo Hoàng hậu rằng: "Nếu nay muốn Ta khai hóa bọn ấy, thì
phải nên kêu người đổ phẩn trong cung kia lại đây luôn".
Hoàng
hậu tức thời, sau sứ đi kêu bọn Phiến Đề La lại. Sứ
giả vâng mạng đi gọi bọn họ, trong giây phút họ đến.
Bọn Phiến Đề La cả năm người nhóm lại đứng ở trước
Phật.
Đức
Thế Tôn đại từ, trước dùng lời lành an ủi sự mệt nhọc,
nói rằng: "Chúng ngươi các con, thân thể có được mạnh
mẽ, an ổn vui sướng và không khổ não chăng?".
Năm
người nổi giận nói rằng:
"Phật
không biết thời. Sở dĩ vì sao? Vì ngày đêm cần khổ, bị
đánh đạp sai khiến không được nghỉ ngơi, có vui sướng
gì đâu, Phật há không biết những sự như vậy hay sao. Mà
trở lại hỏi các ngươi có vui sướng gì chăng?"
Phật
bảo năm người rằng: "Cái sự khổ ngày nay, đều là do đời
trước gian dối, nịnh hót, đem tâm bất thiện, hưởng thọ
người cúng dường, tội nghiệp nhân duyên lần lựa sanh ra,
nhân duyên tội đền trả cho đến đồi nay, vẫn còn chưa
hết. Nếu muốn cầu khỏi quả báo ác thì phải hết lòng
chí thành sám hối, cải dữ tu lành, do nhân duyên từ đây
mới được khỏi tội".
Bọn
Phiến Đề La nghe Phật nói rồi, nổi giận đùng đùng, liền
quay lưng trước mặt Đức Thế Tôn, không muốn nghe nữa.
Phật bèn dùng thần lực hiện ra một hóa Phật, đứng ở
trước mặt bọn ấy, phương tiện bày vẽ khuyên bảo sám
hối: bọn Phiến Đề La quay về hướng Đông, cũng có hóa
Phật đứng ở trước mặt; lại xây về hướng Tây, cũng
có hóa Phật; liền xây bốn phương trên dưới cũng đều
có Phật đứng ở trước mặt. Bọn Phiến Đề La thấy Phật
xung quanh, tức thời năm người kêu to la oan, mà dấy lời
như vầy: "Bọn chúng tôi là người tội tệ ác, Phật nay
vì sao, thấy khổ mà còn dằn ép thêm nữa".
Bấy
giờ, Thế Tôn liền thâu nhiếp hóa Phật lại thành một Phật.
Phật bảo trong đại chúng, Quốc vương, Hoàng hậu và các
thầy Tỳ - kheo mà nói rằng: "Các ngươi có thấy bọn Phiến
Đề La ấy chăng?". Tức thời ai cũng đều thưa rằng: "Dạ
thấy". Phật lại bảo rằng: "Các ngươi phải biết chúng
sanh tội nghiệp có hai món chướng. Thế nào là hai món chướng?
Một
là: Nghiệp chướng.
Hai
là: Phiền não chướng.
Người
tội nhẹ thì có phiền não chướng, người tội nặng thì
có nghiệp chướng; mà bọn Phiến Đề La đây có đủ cả
hai chướng. Vì tội chướng nặng nên không được nghe lời
giáo hóa của Phật, không biết làm sao được".
Khi
bấy giờ, Hoàng hậu thấy bọn Phiến Đề La không chịu nghe
lời Phật giáo hóa, buồn cảm thương tâm nói với năm người
rằng: "Từ nay về sau đã rõ nhân duyên thì tùy ý đi đâu
cũng được, vui sướng đừng lo". Bọn Phiến Đề La liền
quỳ gối xuống khóc lóc thưa với Hoàng hậu rằng: "Muôn
tâu lệnh bà, năm người chúng tôi phụng sự hầu hạ nhà
vua không ngờ có cái lỗi gì mà ngày nay bị đuổi bỏ. Nếu
có sự chi không vừa ý, cúi xin bà rộng lòng tha thứ, để
cho chúng con hầu hạ như trước. Khi ấy, Hoàng hậu khiêm
nhường từ tạ đôi ba lần, nhưng bọn Phiến Đề La không
muốn đi đâu hết(3).
Lúc
ấy, Hoàng hậu lại bạch Phật rằng: "Thưa Thế Tôn! Đệ
tử thiệt tình dung thứ bọn Phiến Đề La mà chúng không
chịu đi đâu hết, sẽ tính làm sao?".
Phật
bảo Hoàng hậu rằng: "Bọn Phiến Đề La trả nợ đời trước
chưa hết, nhân duyên bó buộc nên đi không được. Chẳng
cần làm sao, chỉ cứ tùy thuận theo ý họ, để họ phụng
sư như trước, đến chừng nào nhân duyên đền trả hết,
thì tự được giải thoát".
Lúc
bấy giờ, Phật bảo rằng: "Này Đại Vương! Vả luận người
hay tu phước mà hay khiêm nhường, kính trọng, một lòng thanh
tịnh tu nơi đạo nghiệp thì được công đức không lường;
dù lửa cũng không thể đốt được, dù nước cũng không
có thể trôi được, dù cho trộm cắp, giặc cướp cũng không
có thể làm gì được, dù cho sức mạnh của Quốc vương
cũng không thể lay động được. Như Hoàng hậu hôm nay được
hưởng phước báu vậy.
"Người
đem tâm làm ác tham của hiện tiền, như bọn Phiến Đề La,
trải qua nhiều đời, chịu khổ đến nay chưa dứt; dù gặp
Phật ra đời được nghe lời giáo hóa, cũng như gió thổi
ngoài tai. Vì sức tội nghiệp, trở lại sanh ra oán ghét, mờ
mờ mịt mịt biết bao giờ sẽ khỏi".
Bấy
giờ, Thế Tôn vì lòng từ bi kêu các thầy Tỳ - kheo bảo
rằng: "Như Ta trước đã nói được thân người là khó, gặp
Phật ra đời là khó, được nghe pháp là khó, hưởng được
tuổi thọ cũng khó; đệ tử các con đời trước có chút
ít căn lành nên nay được sanh làm người; gặp Phật ra đời,
nghe pháp tin thọ, cắt dứt tình ân ái, xa lìa cha, mẹ, anh,
em, vợ, con, sáu thân quyến thuộc, xuất gia học đạo, như
người tù ra khỏi ngục; nên bỏ ác làm lành trong ngoài in
nhau; lời nói việc làm không sai khác, bớt sự ham muốn, biết
vừa đủ mà thôi, không tham nhũng sự vinh hoa ở đời; nhịn
đói nhịn khát, chí quyết tu hành, nghiên cứu học vấn tinh
tường bỏ hết các việc ác, trau giồi trí huệ, tu nghiệp
vô lậu để ra khỏi biển sanh tử. Lại đem trí huệ, tùy
thuận giáo hóa thiên hạ, thực hành mười điều lành, thế
mới gọi là độ mình, độ người đúng theo nghiệp Bồ Tát".
Khi
bấy giờ, trong hội có các thầy Tỳ - kheo, nghe Phật nói
rồi, tự xét chỗ hành vi của mình, thân, khẩu, ý, nghiệp,
không xứng với đạo pháp, hơn năm trăm người liền đứng
dậy cung kỉnh cúi đầu sám hối, khép nép chắp tay mà bạch
Phật rằng: "Như theo lời của Đức Thế Tôn vừa nói, trong
ba nghiệp không lành, chúng con có đủ. Nay đối trước Phật
phát lồ sám hối; cúi xin Đức Thế Tôn chứng xét lòng thành,
từ nay về sau chúng con thệ không dám làm quấy nữa, sẽ
như pháp tu hành. Xin Phật chứng minh".
Phật
bảo rằng: "Này Tỳ - kheo các con! Bậc Thánh Tôn trong ba cõi
là cha lành chúng sanh, chúng con nay ăn năn tội ác, làm lành
thật là đáng mừng, Ta sẽ tùy hỷ cho".
Lại
kế đó có năm trăm hàng thô hạnh Tỳ - kheo nghe lời ấy
rồi, liền đứng dậy cúi đầu cung kỉnh xây mặt trước
Phật bạch rằng: "Lạy Đức Thế Tôn! Chúng con không có thể
tu đạo xuất gia. Sở dĩ vì sao? Vì từ xưa đến nay, chúng
con vì việc lợi dưỡng làm sự tà trược, láo dối không
thật, thọ của người cúng dường, mắc nợ (tội) rất nhiều;
vì những lẽ như thế nên con ôm lòng lo sợ; nay muốn bỏ
đạo, trở về tục duyên, xin Phật thương cho".
Phật
bảo các thầy Tỳ - kheo rằng: "Hay thay! Hay thay! Ta cũng mừng
cho các ngươi! Là vì lẽ sao?
Luận
như người làm đạo, như cầm dao bén, như bưng chén thuốc
độc; nếu người nào không kham nổi thì chi bằng đừng làm
tốt hơn. Vì sao? - Vì giữ gìn giới không tinh tấn thì trở
lại hại mình. Mà nay các ngươi đã tin nghiệp báo, có tâm
tàm quý, vì có tàm quý, nên diệt trừ tội lỗi, căn lành
tăng trưởng, chừng Đức Di Lặc Bồ Tát sau khi thành Phật
rồi thuyết pháp hội ban đầu, các ngươi sẽ được độ
trước".
Phật
lại bảo các thầy Tỳ - kheo rằng: "Thà cắt thịt mình dùng
để nuôi miệng chớ không đem tâm tà thọ người cúng thí.
Khó lắm! Khó lắm! Cẩn thận! Cẩn thận!".
Khi
bấy giờ, Phật tử La Hầu La cùng năm mươi Sa - di, nghe Phật
nói nhân duyên gốc ngọn tội lỗi chỗ gây tạo của bọn
Phiến Đề La rất lo sợ lắm; mỗi người liền cung kỉnh
đầu mặt lễ Phật, khép nép bạch với Phật rằng: "Thưa
Đức Thế Tôn! Con nay vừa nghe Phật nói nhân duyên túc nghiệp,
quả báo chịu khổ của bọn Phiến Đề La kia, lòng con rất
lo sợ. Sở dĩ vì sao?
Vì
như Hòa thượng Xá Lợi Phất của chúng con là bậc đại
trí, đại phước đức được những nhà hào tộc trong nước
quen biết rất nhiều, dân chúng đua nhau dâng lễ cúng dường,
trân cam mỹ vị, thức ăn rất quý, nhiều không xiết kể,
còn như chúng con bé dại không có phước đức, ăn của người
những món ăn ngon lành như thế, đời sau lại sẽ lại đền
trả nhân duyên kia, quả báo chịu khổ cũng như bọn Phiến
Đề La. Vì những lẽ như thế nên chúng con rất lo sợ.
Kìa
như năm trăm thầy Tỳ - kheo là bậc trưởng đức còn không
có thể kham nổi bỏ đạo về tục, mà huống chi chúng con,
là người không có trí huệ, cúi xin Phật rủ lòng thương
xót cho chúng con bỏ đạo về nhà, mong khỏi tội khổ, không
có khổ nạn".
Khi
bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo La Hầu La rằng: "Con nay sợ
tội muốn được về nhà, để cho khỏi khổ đó, việc ấy
không phải. Vì cớ sao? Như có hai người thiếu ăn đói khát,
bỗng gặp chủ nhân dọn đủ thức ăn, béo bùi ngon ngọt,
người kia vì bụng đói tham ăn quá no. Song trong hai người
đó, một người có trí, một người ngu si. Người có trí
đó tự biết mình ăn quá no, thân thể nặng nề ấm ách khó
chịu, sợ sanh bệnh khổ, liền đến thầy thuốc hay, khiêm
nhường thấp mình, cúi đầu xin trị giùm bệnh khổ.
Vị
lương y liền lấy thứ thuốc Ma đàn đề cho người kia uống
đó, người kia uống rồi liền mửa món ăn bữa trước trong
bụng ra, khi mửa món ăn bữa trước trong bụng ra rồi lại
gạt lửa đắp mền nằm yên, người kia nhân đó mà khỏi
bệnh khổ, giữ được tuổi thọ, an ổn khoái lạc.
Trái
lại người không có trí kia không biết mình ăn quá no, nên
ấm ách trong bụng tưởng là ma quỷ bắt, liền mời đồng
bóng làm cho tốn hao tiền của, giết oan sanh mạng cúng tế
quỷ thần, cầu xin mạng, nhưng chỉ luống tốn công vô ích,
đồ ăn trong bụng bữa trước dần dần sanh ra bệnh phong,
máu chạy gân chuyển, đau thắt ruột gan; nhớn đó rồi chết
sanh trong địa ngục rồi chịu khổ vài kiếp, bởi do không
có trí vậy".
Phật
nói rằng: "La Hầu La con nay sợ tội về nhà, như người ngu
si không có trí kia vậy".
Luận
như người nay cầu phước muốn khỏi tội đó, cần phải
khiêm tốn và tinh cần gần gũi Minh sư tu tập trí huệ; ăn
năn tội nghiệp ác, cải bỏ những việc ác đã qua, sửa
làm những việc lành sắp đến. Từ đây dần dần thành tựu
trí huệ, vì thành tựu được trí huệ nên tiêu hết các
tội.
Như
Ta trước đã nói oai lực của ánh sáng mặt trời hay tiêu
các chỗ tối. Người tu trí huệ cũng lại như vậy; nhờ
người đời trước có nhân duyên căn lành. Nên nay gặp được
Ta cùng Xá Lợi Phất v.v... Như người kia gặp được vị
lương y có thể cứu bệnh khổ mà được khỏi chết. Con
nay vì sao bỏ chỗ sáng vào chỗ tối?"
Sa-di
La Hầu La bạch rằng: "Lạy Thế Tôn! Theo trí con nghĩ trí
huệ chư Phật rộng lớn cũng như biển cả; còn tâm La Hầu
chúng con nhỏ hẹp dụ như chỉ mành, đâu hay nhận nổi trí
huệ của Đức Như Lai".
Phật
bảo La Hầu: "Như giọt nước trời mưa, giọt sau không kịp
giọt trước, tuy răng không kịp nhau nhưng có thể lần đầy
mái to, người tu học trí huệ cũng lại như vậy. Ban đầu
từ giọt nhỏ, lần đầy mái to, mái to đầy rồi sang tràn
mái khác, lần lựa như vậy, đầy không biết bao nhiêu mái,
thế mới gọi là lợi mình lợi người. Vì lời mình lợi
người, nên gọi là bậc Đại sĩ như Ta hôm nay vậy".
Bọn
ông La Hầu La thảy nghe Phật nói rồi tâm khai, ý tỏ không
còn lo sợ, liền vâng làm đúng như lời Đức Thế Tôn dạy
không có nghi vậy.
Khi
bấy giờ, trong hội có vị Thái tử của vua nước ấy tên
là Kỳ Đà, nghe Phật giảng dạy pháp tu Thập thiện, nhân
duyên quả báo không có cùng tận. Liền quỳ gối chắp tay
bạch Đức Thế Tôn rằng: "Xưa Phật cho con thọ trì Ngũ giới.
Nay con muốn xả bỏ để thọ pháp Thập Thiện. Sở dĩ vì
sao?
Vì
trong pháp Ngũ giới về giới rượu rất khó giữ nên con sợ
mắc tội".
Đức
Thế Tôn bảo rằng: "Khi con uống rượu có làm việc ác chi
chăng?".
Kỳ
Đà bạch Phật: "Những nhà hào cường trong nước thường
thường rủ nhau bày ra tiệc rượu, cùng nhau uống vui vẻ.
Vì đặng vui vẻ nên tự không có làm ác vậy. Vì cớ sao?
Vì khi đặng uống rượu nên nghĩ đến giới, vì nghĩ đến
giới nên không có buông lung, thế cho nên uống rượu không
có làm ác vậy".
Phật
bảo: "Hay thay! Hay thay! Kỳ Đà ơi! con nay đặng trí huệ phương
tiện. Nếu người trong thế gian được như ngươi hết, thì
dù cho uống rượu suốt đời cũng không có cái ác chi cả.
Người tu như thế mới được sanh phước không có tội vậy.
Luận
như người tu pháp Thập thiện kể có hai phép. Một là: Hữu
lậu. Hai là: Vô lậu. Người tu phước hữu lậu, thường
hưởng cái quả báo khoái lạc cõi nhơn thiên. Người tu phước
vô lậu, thì được cái quả báo, khỏi khổ sanh tử thẳng
đến Niết - bàn.
Nếu
người uống rượu không tạo nghiệp ác, vì tâm hoan hỷ không
khởi ra phiền não; nhân duyên tâm thiện, nên hưởng cái quả
báo thiện. Thái tử giữ Ngũ giới có lỗi gì ư? Uống rượu
mà nghĩ đến giới thì càng thêm nhiều phước, trước ngươi
giữ Ngũ giới, mà bây giờ lại giữ thêm pháp Thập thiện
thì công đức càng hơn cái quả báo Thập thiện vậy".
Khi
bấy giờ, vua Ba Tư Nặc bạch Phật rằng: "Thưa Đức Thế
Tôn! Theo như lời Phật nói, khi tâm hoan hỷ không tạo nghiệp
ác, nên gọi là hữu lậu thiện, việc đó không phải vậy.
Vì cớ sao? Vì khi người uống rượu thời tâm hoan hỷ; vì
tâm hoan hỷ nên không khởi ra phiền não, vì không phiền não
nên không làm não hại, vì không làm não hại cho ai nên ba
nghiệp được thanh tịnh, ba đường nghiệp được trong sạch
ấy là vô lậu nghiệp.
Bạch
Thế Tôn! Ý con nhớ hồi trước con dạo đi săn chơi quên
đem người đầu bếp, lúc vào trong núi sâu biết đói muốn
ăn. Kẻ tả hữu đáp rằng: "Hồi mời vua đi không thấy truyền
lệnh cho người đầu bếp theo. Nên giờ này không có cơm
ăn. Thưa Thế tôn! Con nghe lời ấy rồi liền sải ngựa về
cung, truyền bảo dọn cơm, kẻ đầu bếp nhà vua tên là Tu
Ca La.
Tu
Ca La thưa rằng: "Hiện giờ không có cơm, nay mới đương nấu".
Lúc con đói quá giận không còn nghĩ gì; bực tức mê cuồng
ra lệnh các quan đem chém người đầu bếp.
Các
quan thấy vua ra lệnh, liền cùng nhau bàn rằng: "Chọn khắp
trong nước, chỉ có một người này trung lương ngay thẳng,
nay nếu giết đó thì không còn ai có thể làm trù giám cho
vua và làm cho vừa ý vua".
Khi
ấy, bà Mạt Lợi Phu nhân nghe vua ra lệnh giết Tu Ca La, lòng
rất thương tiếc, biết vua vì đói quá, liền ra lệnh sắm
đủ rượu qúy thịt ngon, tắm gội hương hoa, trang sức thân
thể và đem các kỹ nữ đi đến chỗ vua.
Con
thấy Hoàng hậu trau giồi tốt đẹp và đem theo kỹ nữ với
một cỗ rượu thịt ngon đến, con liền hết giận. Vì cớ
sao? Vì nàng Mạt Lợi Phu nhân là người giữ năm giới cấm
của Phật không uống rượu đã lâu. Hôm nay bỗng nhiên tâm
con đương giận, mà lại đem rượu thịt đến, cùng nhau ăn
uống, vui chơi để cho thỏa lòng giận dủi.
Con
liền cùng với Phu nhân uống rượu ăn thịt đàn hát kỹ
nhạc hoan hỷ khoái lạc, nên lòng giận tiêu hết, Hoàng hậu
biết con không còn ý giận nữa, bèn sai Huỳnh môn truyền
lệnh con bảo các ngoại quan đừng giết trù giám.
Các
quan liền vâng giáo chỉ. Đến sáng ngày sau con rất ăn năn
tự trách rầu lo không ăn, dung nhan tiều tụy. Phu nhân thấy
vậy hỏi con: "Vì sao lo buồn hay có bệnh chi chăng?"
Con
nói: "Ngày hôm qua, ta nhơn vì cái lửa đói ép ngặt, vì tâm
bực tức giết Tu Ca La, nhơn Trẫm tự xét trong nước đều
không có người làm giám trù cho Trẫm như Tu Ca La. Vì những
lẽ ấy nên Trẫm lo sầu hối hận".
Phu
nhân cười nói rằng: "Người kia còn sống, xin vua chớ buồn".
Con lại hỏi rằng: "Như thế là thật, hay là nói chơi?"
Phu
nhân đáp rằng: "Thật chớ không láo dối vậy". Con liền
sai kẻ tả hữu kêu trù giám đến, sứ giả đi gọi trong
giây phút đem đến, con rất vui mừng không còn uất hận".
Vua
bạch Phật rằng: "Thưa Đức Thế Tôn! Mạt Lợi Phu nhân,
giữ năm giới của Phật, mỗi tháng lục trai, giữ Ngũ giới
trọn đời, nay trong một ngày, đã phạm giới ẩm tửu, giới
vọng ngữ, hai giới và trong giới Bát quan trai dã phạm sáu
giới, việc này làm sao? Chỗ phạm tội giới kia nặng, hay
nhẹ?".
Thế
Tôn đáp rằng: "Phạm giới như thế được nhiều công đức,
không có tội vậy. Vì cớ sao? Vì có sự lợi ích như Ta trước
đã nói. Luận như người tu thiện kể có hai món. Một là:
Hữu lậu thệin; hai là: Vô lậu thiện. Bà Mạt Lợi Phu nhân,
chỗ phạm giới đó là Hữu lậu thiện. Còn không phạm giới
đó là Vô lậu thiện.
Những
người y ngữ bất y nghĩa đó là chỗ phá giới tu thiện là
Hữu lậu thiện; người người y nghĩa bất y ngữ mà tâm
tu thiện gọi là Vô lậu thiện".
Vua
bạch Phật rằng: "Theo như lời của Đức Thế Tôn nói: Nàng
Mạc Lợi Phu nhân uống rượu phá giới, không khởi ra tâm
ác, mà có công đức không mắc tội quả báo ấy; thì tất
cả nhân dây thảy đều làm được. Vì cớ sao?
Con
nhớ trước đây trong thành Xá Vệ, có những nhà hào tộc,
có Công chúa giòng Sát Lợi, nhân gây kình chút ít, lần đến
oán thù to, mỗi người bày mưu đem binh đánh nhau, hai nhà
đều là nhà hào tộc trong nước, lại cũng là bà con thân
thích chớ chẳng phải người nào xa lạ, thế mà chiến đấu
mãi không nghe lời con can gián nên con rất buồn.
Con
tự nhớ rằng:"Hồi con còn làm Thái tử, có quan đại thần
của đức Tiên vương tên là Đề Di La. Ỷ thế tông môn phú
quý hào cường, thấy con khinh dể; thường trêu ghẹo con còn
hơn loại súc sanh; đương khi giận dủi bực tức không kể
gì nữa ý muốn giết đi, nhưng mà không đủ sức, mới vào
tâu với vua cha, mà ngài cũng không xét cho. Oán hận đầy
ruột không biết làm sao được. Vì duyên cớ ấy nên con thường
bỏ sự ăn uống sầu muộn áo não.
Khi
bấy giờ, Thái hậu thấy con sầu khổ, nhiều phen khuyên con
mà con buồn mãi không nguôi. Trong khi ấy Thái hậu nặng tình
thương con, bèn sai sứ nhơn cầu kiếm rượu tốt đem về
khuyên con uống.
Con
liền bạch với mẹ con rằng: "Tiên tổ nhà ta nói nhau theo
Bà-la-môn thờ trời Na La Diên. Nếu nay uống rượu e sợ trời
giận và bị Bà-la-môn quở phạt. Đương khi Thái hậu thấy
con nguy hiểm tánh mạng, trong lúc đêm khuya canh vắng đóng
hết các cửa cung không cho người ngoài như Huỳnh môn, tì
nữ được biết.
Thái
hậu khuyên con rằng: Luận như đã là Thiên thần thì phải
có tâm từ bi cứu khổ tất cả. Các thầy Bà-la-môn cũng
phải như vậy, con nay sầu khổ, lỡ chết mất mạng, Thiên
thần đâu hay cứu được mạng con chăng?
Chi
bằng uống thuốc tiêu tan ưu hoạn, được toàn thân mạng,
các thầy Bà-la-môn kia, chưa đặng Thiên nhãn làm gì biết
được sự ẩn mật của con sao? Thúc giục đôi ba phen, túng
thế con phải uống đó, đã uống rượu rồi quên mất cái
tâm sầu hận.
Thái
hậu thấy con mặt mày tươi tỉnh, tâm rất vui mừng, liền
đòi cung nữ đàn hát kỹ nhạc, trong ba bảy ngày hưởng vui
ngũ dục, bao nhiêu lòng phẩn hận từ đây đều hết.
Con
nghĩ như vầy rồi liền sai trung thần bảo sắm rượu ngon
và đủ mâm cỗ, lại ra lệnh truyền những nhà hào tộc trong
nước, quần thần, sĩ dân, thảy đều đến nhóm: muốn có
chỗ bàn một việc lớn, trong nước các quan đến nhóm hai
bên quyến thuộc, mỗi bên đều có hơn năm trăm người, cùng
đòi đến nhóm ở trên điện vua trang nghiêm khoái lạc.
Vua
lại sai trung thần, sắm chén bằng ngọc lưu ly, mỗi chén
đựng được ba thưng, trong mỗi chén ngọc đựng đày rượu
ngon. Con liền đối ở trước công chúng bưng lên một chén
nói rằng:
"Nay
bàn việc lớn, tôi thiết tưởng những người ngồi trong
hội đây, ai cũng một lòng. Vậy thì nay mỗi người cũng
phải uống một chén thuốc bổ cam lồ này, rồi sau sẽ bàn
việc".
Ai
nấy đều nói rằng: "Xin vâng mạng Đại vương". Con liền
sai quan hầu đàn hát kỹ nhạc, mọi người được uống rượu
và nghe âm nhạc, nên tâm rất vui mừng, quên mất cừu hận,
phấn chấn không còn ngại gì nữa.
Vua
lại nâng chén, nói với các quan rằng: "Kẻ sĩ phu này tu đức
đã trải qua nhiều kiếp, tôn thờ Thánh giáo không dám sai
lầm. Quý ngài vì sao nhơn việc nhỏ mà tức giận đánh nhau
như thế? Nếu không nhịn nhau, thì e cho nước mất nhà tan,vì
thế nên lần này tôi lấy lòng can gián xin quý ngài đừng
đánh nhau nữa".
Các
quan tâu rằng: "Kính vâng không dám trái mạng". Nhân đó được
hòa bình.
Vua
bạch Phật rằng: "Thưa Thế Tôn! Người khởi ra việc tranh
giành không nhân nơi uống rượu, trái lại, nhân đặng uống
rượu mà tiêu hết cái tâm giận tức tranh giành (mà đặng
hòa bình). Đâu không nhờ công năng uống rượu ư?
Lại
nữa Đức Thế Tôn! Con xét thấy trong thế gian những người
bần cùng, tiểu nhân, nô khách, tỳ nữ, mọi rợ, hoặc nhân
ngày khánh tiết, hoặc ở nơi tiệm rượu; nhóm hội ăn uống,
vì tâm vui vẻ không đợi người dạy, mỗi người biết nhảy
múa. Khi chưa được uống rượu thì không có việc ấy.
Thế
nên biết rằng người thân uống rượu mà sanh vui vẻ. Khi
tâm vui vẻ không sanh niệm ác, vì không sanh ra niệm ác thế
nên mới gọi là thiện tâm; nhân duyên tâm thiện nên được
báo thiện.
Lại
nữa thưa Đức Thế Tôn! Kìa như loài nhĩ hầu đặng uống
rượu còn hay đứng dậy nhảy múa, huống chư người đời.
Theo
như lời Đức Thế Tôn nói, làm lành được quả báo lành;
làm ác thì mắc quả báo ác. Như người trong thế gian, nhờ
đời trước làm việc bố thí nhân duyên phước đức, nên
nay được giàu to. Kẻ nghèo đến xin, lại tham tiếc không
cho; vì cái nhân tham tiếc nên sẽ mắc quả báo ngạ quỷ.
Hoặc
có người đời, hoặc nam, hoặc nữ, được thân hình tốt
đẹp. Con trai thì được con gái yêu; con gái đẹp thì được
con trai yêu. Nếu có người dùng sức mạnh ngăn cấm nam, nữ
không cho hội họp. Vì không đặng hiệp nên sanh ra ưu khổ,
những tội đây sẽ quy về ai?
Mạt
Lợi Phu nhân đều do đời trước có tâm tốt bố thí người.
Cho nên nay được báo thân tốt đẹp. Vì sao Đức Thế Tôn
bắt giữ Ngũ giới; mỗi tháng ăn lục trai, không đặng trau
giồi hương hoa phấn sáp; lại cũng không cho đàn hát kỹ
nhạc, và cũng không cho gần gũi với chồng yêu, tấm thân
tốt đẹp để làm gì, luống mất không công. Đâu chẳng
phải khổ ư?".
Phật
bảo vua rằng: "Đại vương nạn như thế, không phải là không
hay. Nhưng bà Mạt Lợi Phu nhân khi còn tuổi trẻ; nếu Ta không
dạy cho giới pháp tu trí tuệ đó, thì làm sao sẽ có công
đức ngày nay; đã hay độ đặng mình lại độ thân vua. Vậy
chớ công đức ấy sẽ quy về ai?
Bà
Mạt Lợi Phu nhân, vì nghe Ta dạy tu hành đúng pháp. Cho nên
ngày nay thành tựu trí huệ, mới được giải thoát vậy.
Lại
nữa này Đại vương! Thí như người đời, trong gia đình
chỉ có một đứa con, vì muốn cho thành người, nên lúc còn
bé đem đến trường học. Nhờ thầy dạy bảo văn thơ, nghệ
thuật, nhân cách, lễ nghĩa, theo phép của nhà trường đều
có kỷ luật, quở, trách, đánh, phạt, hạn chế ăn uống,
không cho ngủ nhiều, ra vào đi lại, không sái tiết độ.
Những
người có trái phạm tùy tội nặng nhẹ, xét mà hành phạt.
Vì trẻ sợ đòn, chuyên tâm lo học, đến khi tuổi lớn, tài
cao, học rộng, việc gì cũng biết, lại đem cái biết ấy
dạy sang người khác. Bà Mạt Lợi Phu nhân, vâng giữ trai
giới cũng giống như thế.
Lại
nữa này Đại vương! Ví như Phú Lầu Na vì tâm ganh ghét nên
cắt đứt ân ái, từ cha mẹ bỏ lìa vợ con. Vào núi tu học,
mình mặc áo bằng cỏ, chịu lạnh, chịu khổ, tự lập lời
thệ rằng: "Quyết định đọc thuộc chín mươi sáu món kinh,
thơ, ký luận đều được thông suốt. Nếu không được như
vậy thời không trở về cùng cha mẹ thấy nhau".
Trọn
hai mươi năm tất cả thông suốt. Trở về thành Vương Xá
đầu đội lửa đuốc, bụng nịch tiếng đồng, đi trên bờ
ruộng tự xướng to lên rằng: "Mình là người Nhứt Thiết
trí". Rồi đến Ta hỏi rằng: "Này Cù Đàm Sa môn! Có biết
tôi là ai không?".
Ta
nói: Người là người ngu si. Rồi nói bài tụng rằng:
Nếu
là người có trí tuệ,
Không
khoe mình ai cũng biết.
Như
thế là kẻ đa văn,
Như
mặt trời soi trong thế gian.
(Không
khoe mình là sáng, mà ai cũng biết là sáng)
Kẻ
vừa nghe (biết) chút ít,
Tự
khoe mình là lớn.
Như
mù cầm đuốc soi,
Chiếu
ai chớ mình không sáng.
Khi
bấy giờ, Phú Lầu Na nghe Ta nói lời ấy rồi bỗng nhiên
tâm ngộ, liền bỏ đuốc cổi đồng, năm vóc gieo sát đất,
hổ thẹn xin lỗi. Vì do ông là người đa văn, trí hụê các
căn thông lợi, cho nên trong khi lạy xuống chưa đứng dậy
mà dã dữt đặng phiền não trong ba cõi được quả A La Hán.
Sức trí huệ đó thí cũng như câu móc điều phục con voi,
voi tùy theo móc mà đi(4).
Đại
vương phải biết rằng: Luận như người tập đọc, đều
nhờ ngăn cấm năm tình, mới được thông suốt không chỗ
ngăn ngại. Vì chỗ không ngăn ngăn ngại nên gọi là Vô ngại
trí. Vô ngại trí ấy đủ có bốn biện tài vậy. Nay Phú
Lầu Na đủ có bốn món biện tài, đều nhờ khiêm tốn cần
khổ học tập mới được. Thế cho nên Ta nói: Luận như người
huệ giải có bảy món của. Sao gọi là bảy?
Một
là: Tín tài.
Hai
là: Tinh tấn.
Ba
là: Trì giới
Bốn
là: Tàm quý.
Năm
là: Đa văn.
Sáu
là: Hành xả.
Bảy
là: Định huệ.
Ấy
là bảy món của; bà Mạt Lợi Phu nhân có đủ bảy món của
ấy.
Đại
vương phải biết, Mạt Lợi Phu nhân tuy là thân nữ, mà tài
cao trí rộng, chẳng phải như người phàm, đều nhờ hồi
còn trẻ đến giời, giữ gìn cẩn thận thân, khẩu, ý nghiệp,
nhất tâm chuyên niệm, tu tập trí huệ, vì cái sức trí huệ
nên gọi là sức giải thoát; rồi đem trí tuệ bày tỏ khắp
trong thiên hạ.
Khi
bấy giờ, Đức Thế Tôn, nhân Sa-di La Hầu La và cả đại
chúng mà nói bài tụng rằng:
Đa
văn là chim cánh vàng
Oai
thế võ lực mạnh
Vân
là kho hành bảo
Ở
đâu lợi ích đấy
Văn
là cầu cống to
Cứu
khỏi mọi khổ ách
Văn
là thuyền lái lớn
Đưa
qua biển sanh tử
Đa
văn chí được sáng
Vì
sáng trí huệ thêm
Trí
huệ hiểu (rõ) nghĩa rộng
Thấy
nghe tu đúng pháp
Đa
văn trừ được não
Hay
dùng định làm vui
Khéo
giải pháp cam lồ
Từ
đó được Niết bàn
Văn
là biết pháp luật
Hết
nghi thấy được chánh
Nhờ
văn bỏ phi pháp
Đi
đến chỗ bất tử
Tiên
nhân kính thờ văn
Chư
Thiên lại cũng thế
Giữ
tâm không buông lung
Đa
văn thành Thánh trí
Trí
huệ trừ lo giận
Cũng
dẹp thói tà phi
Người
muốn cầu yên ổn
Phải
tôn thờ người trí (sáng suốt)
Mù
từ đây được mắt
Như
trong tối được đuốc,
Mở
lối cho người đời
Như
người sáng dắt người tối
Thế
là bỏ ngu si
Ly,
mạn, hào, phú, lạc
Chăm
học thờ Minh sư
Ấy
gọi là người đức.
Khi
bấy giờ Đức Thế Tôn nói bài kệ ấy rồi bảo vua rằng:
"Này Đại vương! Nay Đại vương có phước đức thông suốt
nghĩa rộng, là đều bởi đời trước thân cận (gần gũi)
bậc Minh sư khiêm tốn, cầu khẩn, hầu hạ (phụng thờ) học
tập mới được nhân duyên quả báo, nay được làm vua; trí
huệ thông suốt tùy nghi tiếp dắt trong thế gian ít có.
Thế
cho nên Ta nói Bát Nhã trí huệ có bốn nghĩa, thì đủ biết
rằng: Người cầu đạo tam thừa phải học pháp Bát Nhã.
Muốn lìa khỏi cái khổ hoạn trong tam đồ bát nạn, muốn
hưởng quả báo khoái lạc cõi nhơn thiên. Nói tóm lại là,
muốn cầu tất cả phước đức đều phải tu học trí huệ
phương tiện.
Như
Ta trước đã nói: Vua A Dật Đa, vì nhờ sức cần khổ học
tập trí huệ, tuy trong khi lỡ làm ác mà phải sanh trong đường
ác thú, nhưng thường nhớ lại túc mạng, vì nhớ được
túc mạng nên bỏ dữ làm lành, chóng được giải thoát, cảm
động đến chư Thiên tiếp tế cúng dường, dùng sức trí
huệ làm thầy chư Thiên. Do nhân duyên ấy, nên Ta nói Bát
Nhã có đủ bốn nghĩa vậy".
Khi
bấy giờ, vua Ba Tư Nặc nghe Phật giảng dạy trí huệ phương
tiện, công đức nhân duyên, tất cả vui mừng. Thái tử Kỳ
Đà, Phu nhân, Thái hậu, quần thần, sĩ dân, tất cả đại
chúng không ai mà không tỏ ngộ, mỗi người đều cung kỉnh,
vì Phật làm lễ lại ngồi như cũ.
Vua
lại vòng tay bạch Phật rằng: "Theo như lời Phật nói, người
đời tu thiện kể có hai món. Một là: Hữu lậu thiện. Hai
là: Vô lậu thiện. Hữu lậu, Vô lậu hai nghĩa cùng quy về
một. Vì sao Đức Thế Tôn lại nói khác nhau ư?".
Phật
bảo vua rằng: "Người có hai hạng. Một là người lợi căn.
Hai là người độn căn; mà người độn căn có hai món thiện,
còn người lợi căn thì không nói hai vậy. Sở dĩ vì sao?
Ví như các nguồn nước chảy cũng về một biển. Còn người
độn căn bị các căn ngăn lấp, thế cho nên vì nói các pháp
phân biệt cho nghe".
Khi
bấy giờ, Thái tử vua nước ấy là Kỳ Đà bạch Phật: "Thưa
Đức Thế Tôn, giới pháp Thập thiện có nhiều nghĩa hay là
cũng đồng một nghĩa. Pháp Thập thiện về giới vọng ngữ
một hay nhiều. Nếu chỉ một nghĩa, chắc con không giữ gìn
được, còn nhiều nghĩa xin Phật nói cho".
Phật
bảo Kỳ Đà rằng: "Vọng ngữ có hai, một là nặng, hai là
nhẹ. Sao gọi là nặng? Nghĩa là người thọ giới rồi mà
không tu trí huệ, ngu si tối dốt, không biết giáo hóa làm
Phật pháp được hưng thịnh thêm lên. Vì những lẽ ấy người
ta khinh dể, không được của cúng dường bần cùng khốn
khổ; vì không được cúng dường nên ngoài thân hiện tướng
tinh tấn, mà trong tâm làm việc tà trược.
Cùng
nhau tuyên truyền đến nói mọi rằng Tỳ - kheo kia, khổ hạn,
tinh tấn, đặng cảnh giới thiền, hoặc nói thấy Phật, thấy
rồng, thấy quỷ. Những người như thế gọi là đại vọng
ngữ. Người phạm tội đây đọa vào trong địa ngục A tỳ.
Lại
cũng có tội vọng ngữ hay làm thiệt hại người, phá hoại
nhà người; lại có tội vọng ngữ, làm trái mất kỳ hẹn
khiến cho người tức giận, như vậy gọi là tội hạ vọng
ngữ, những người làm như thế gọi là phạm giới, đọa
trong tiểu ngục. Còn bao nhiêu thứ vọng ngữ như là nói chơi
và những lý đáng giấu, sự đáng cấm hoặc có nói không,
hoặc không có nói, không phạm giới vậy".
Thái
tử Kỳ Đà nghe lời nói ấy rồi, liền ở trước Phật thọ
pháp Thập thiện và bạch Phật rằng: "Thưa Thế Tôn! Đệ
tử ngày nay nghi hối đã trừ, phát tâm Tam Miệu Tam Bồ đề
xin Phật chứng biết".
Phật
nói: "Hay thay! Ngươi nay đã biết thế, Ta rất vui mừng".
Khi
bấy giờ, vua Ba Tư Nặc bạch với Phật rằng: "Theo như lời
Phật đã nói, thì mười phương các vị Hiền Thánh rõ thấu
nhân duyên quả báo của tất cả chúng sanh. Vậy thì phụ
vương con trước kia tu trì giới cấm của ngoại đạo, không
uống rượu và không ăn hành, tỏi, ngũ vị tân; kính thờ
Phạm Thiên và thờ mặt nhật, nguyệt, thủy, hỏa, thường
làm việc bố thí để cầu sanh về cõi trời Phạm Thiên.
Mỗi năm thường dùng một ngàn con bò sữa cúng dường cho
các thầy Bà-la-môn.
Kể
bốn mươi năm, có bốn vạn con bò, thỉnh các thầy Bà-la-môn
ăn sữa, tô lạc, sanh tô, thục tô, đề hồ các vị, công
đức như thế sẽ sanh về cõi trời nào? Cúi xin Phật dủ
lòng thương xót dạy bảo, khiến cho những người tu hành
ai cũng được nghe được biết".
Phật
bảo vua rằng: "Quả báo của Tiên Vương, nay ở trong địa
ngục. Sở dĩ vì sao? Vì rằng sanh ra không gặp thiện thời,
không gặp thiện hữu và không gặp thiện phương tiện, tuy
tu các công đức mà không đặng khỏi tội. Nhưng mà cái công
đức bố thí kia không mất đi đâu, chừng nào tội hết mới
đặng hưởng phước".
Đại
vương phải biết: "Luận như người tu phước không chuộc
được tội, vì không chuộc được tội nên cần phải có
phương tiện mới chuộc được tội".
Phương
tiện là gì? Nghĩa là ông Thiện tri thức. Sao gọi là thiện
hữu? Nghĩa là người chánh kiến ấy là thiện hữu. Thường
đem lời chánh điều phục tâm mình.
Chánh
giáo là gì? Nghĩa là dạy quán pháp vô thường, khổ, không,
vô ngã và mười hai nhân duyên trói buộc đường sanh tử.
Và tu pháp Tứ Chơn đế; thấy khổ, đoạn tập, chứng diệt,
tu đạo, thực hành sáu pháp Ba La Mật và Tứ Vô Lượng Tâm,
thế mới gọi là phương tiện điều phục các căn, vì điều
phục các căn nên định huệ được thành tựu, vì định
huệ được thành tựu nên tâm mình được ngay thẳng, vì
tâm mình được ngay thẳng nên sanh ra tinh tấn. Vì tâm tinh
tấn nên hay sanh ra sự giữ giới, vì giữ giới được hoàn
toàn nên định huệ sáng tỏ, vì huệ được sáng tỏ nên
làm đủ muôn hạnh thông suốt không ngăn ngại, vì muôn hạnh
thông suốt không ngăn ngại cho nên kêu là giải thoát, mà
cái tâm giải thoát đó tức là Niết bàn vậy. Thế cho nên
mới kêu là Thiện tri thức vậy.
Đại
vương phải biết: Minh sư dắt dẫn thật là một nhân duyên
lớn, không nên khinh vậy. Đại vương nay được gặp Hiền
Thánh, đều nhờ nhân duyên quả báo đời trước, nên đời
nay nghe pháp tin hiểu, lại có tài năng làm cho người tin hiểu.
Thế nên Ta nói người sáng khó gặp, như có một người không
ai sánh kịp, người đó sanh ra chỗ nào, thân tộc nhờ phước,
thế nên phải tu Bát Nhã trí huệ".
Vua
bạch Phật rằng: "Thưa Đức Thế Tôn! Con nghe Thế Tôn nói
trí huệ phương tiện, tâm con đèu được thông suốt, theo
như lời của Đức Thế Tôn đã nói họa phước chẳng đồng,
nhưng mà không biết Tiên Đế của con, có cái ác nghiệp chi
và chịu khổ báo gì?".
Phật
bảo vua rằng:"Tiên đế của Đại vương có sáu món tội.
Sao gọi là sáu món tội?.
Một
tội là: Ngạo mạn, nhơ bẩn, không luận việc nhỏ hay lớn,
đánh phạt ngang tàng, vì không nhẫn nhịn vậy. Hai tội là:
Tham nhận của báu, xử đoán không công, làm cho thiên hạ
kêu rêu oán hận. Ba tội là: Vui chơi, săn bắn làm khốn khổ
nhân dân, tàn sát chúng sanh những loài tiếc mạng sống. Bốn
tội là: Giam cầm cung nữ, không đặng vừa ý, chịu nhiều
khổ não. Năm tội là: Đắm mê nữ sắc, mới chuộng cũ vong,
ăn ở bất bình, sanh ra oán hận. Sáu tội là: Sợ các thầy
Bà-la-môn, ăn vụng rượu thịt, hành, tỏi, ngũ vị tân; sợ
kia quở trách, dối trá du bợ, ấy gọi là sáu việc tội
nghiệp nhân duyên sanh trong địa ngục.
Vua
bạch Phật rằng: "Nếu đã như vậy đó thì khi Phật chưa
ra đời. Đệ tử này cũng có tội như thế, vậy bây giờ
phải làm sao tu pháp Thập thiện cho được thành tựu không
ngăn ngại ư?".
Phật
bảo vua rằng: "Như Ta trước đã nói, khi ánh mặt trời mọc
ra thì các tối tiêu hết hay là còn tối chăng?"
Vua
bạch Phật rằng: "Thưa Đức Thế Tôn! Ánh sáng của đèn
còn có thể diệt được tối tăm, huống chi oai thế của
ánh sáng mặt trời rất mạnh vậy".
Phật
nói rằng: "Nay vua có phước đức nghe Ta nói pháp thành tựu
trí huệ, ví như ánh sáng mặt trời tiêu diệt hết các sự
tối tăm, không còn tội lỗi vậy".
Vua
Ba Tư Nặc bạch Phật rằng: "Cha con tôn thờ những thầy Bà-la-môn
tinh tấn trí huệ, tu tập khổ hạnh, là vì cầu phước không
tiếc thân mạng, hoặc có khi gieo mình xuống núi, năm món
nóng háp thân, hoặc bỏ ăn uống để cầu sanh về cõi Phạm
Thiên hoặc chất củi thiêu sống thân mình, hoặc co giò hả
miệng hớp ánh sáng mặt trời, hoặc leo lên cây cao, lấy
dây buộc chân rồi thòng đầu xuống, hoặc nằm trên chông
gai, rinh đá đè lên bụng có như vậy v.v... biết bao là khổ
hạnh. Nhưng mà không biết nhân duyên phước đức, công tu
khổ hạnh sẽ về chỗ nào?"
Phật
đáp rằng: "Như Ta đã nói trước, làm khổ chịu quả báo
khổ, làm vui được quả báo vui, vua không nghe sao?".
Vua
nói rằng: "Thưa Đức Thế Tôn! Như vậy thời Thế Tôn bắt
các hàng đệ tử phải trì cấm giới đâu chẳng phải là
khổ ư? Vì sao? Vì luận như người trong lúc đói không được
ăn liền, đâm ra phiền não, tức giận nổi lộn không còn
biết chi là chi, chỉ muốn làm hại giết Tu Ca la, những việc
như thế nên chịu khổ nhiều đời, đâu chẳng phải là ác
sao?".
Phật
bảo vua rằng: "Ta trước sở dĩ hạn chế cho ăn giữa giờ
ngọ ấy là vì hai lẽ. Một là: Vì cá Tỳ - kheo bỏ pháp
ngoại đạo vào trong pháp Ta xuất gia tu hành, vì tâm chịu
đói khát, khổ hạnh trước đã quen. Hai là: Các ông đệ
tử đặng món ăn ngon lành (béo) tham ăn quá no, vì ăn không
tiết độ nên sanh ra các bệnh. Thế nên Ta hạn chế sự ăn,
chẳng phải là vì chịu đói chịu khổ, để cầu phước
đức vậy.
Lại
nữa có giờ khắc, đó là vì Ta thấy các thầy Tỳ - kheo,
ngày đêm nghiễu nghện đi xin ăn, ăn không có giờ khắc,
làm cho bọn ngoại đạo nó chê trách và nói rằng:"Cù Đàm
Sa môn tự nói đạo mình là tinh tấn, mà sao không bằng pháp
ngoại đạo. Thế nên Ta bắt ăn có giờ, chớ chẳng phải
bắt chịu đói chịu khổ để cầu phước vậy.
Nói
tóm lại là Ta bắt giữ cấm giới, chính vì người ngu si
không huệ phương tiện, chớ chẳng phải là hạng người
trí huệ biết rõ thời nghi vậy.
Như
Ta trước đã nói:Bát Nhã trí huệ tức là sức giải thoát
chỗ đó là chỗ thực hành của bậc Thánh Hiền mà người
trí cần phải vâng làm".
Vua
nghe lời ấy rồi càng thêm hoan hỷ liền đứng dậy cung kỉnh,
vì Phật làm lễ, tất cả đại chúng cũng đồng như vậy.
PHẦN
LƯU THÔNG
Khi
bấy giờ, vua Ba Tư Nặc quỳ gối chắp tay bạch Phật rằng:
"Thưa Đức Thế Tôn! Nay trong đại chúng đã nghe Phật giảng
nói, mối nghi tan sạch. Ví cũng như ánh sáng mặt trời tiêu
hết các tối tăm, thấy được tỏ rõ. Công đức như đây,
ân kia khó đền. Đệ tử chúng con làm cách nào thi thiết
cúng dường, để đền cái ơn nặng Đức Thế Tôn ngày nay
vậy".
Phật
bảo vua và cả trong đại chúng rằng: "Giáo pháp cam lồ công
kia khó trả, dù cho có người ở trong hằng sa kiếp, tận
tâm phụng sự Phật Pháp Tăng áo mặc, ăn uống, đồ nằm,
tật bệnh, thuốc thang, thì ý vua nghĩ sao, phước kia nhiều
chăng?".
Vua
nói rằng: "Dạ nhiều lắm, không có thể so lường được".
Phật
bảo vua rằng: "Giáo pháp cam lồ đây, tinh diệu khó lường,
cứu độ tất cả bất kỳ việc lớn hay nhỏ. Chẳng phải
dùng cái sức phước đức cõi Nhơn Thiên mà có thể trả
được vậy. Nếu muốn trả chỉ có một việc, có thể trả
ơn Phật được".
Sao
là một việc? Nghĩa là thường dùng tâm từ đem cái chỗ
của mình hiểu biết tất cả thiện pháp đó, lần lựa khai
hóa nhẫn đến một người, cũng làm cho họ tín tâm thành
tựu trí huệ. Cứ thế rồi làn đến vô cùng vô tận. Ví
như một ngọn đèn, mồi ra không biết bao nhiêu ngọn đèn,
người tu như thế mới gọi là học trò trả ơn nặng cho
thầy.
Đại
vương phải biết. Muốn trả ơn thầy giải thoát cho mình
đó, thì mình lại phải đem trí huệ giải thoát cho chúng
sanh, người tu như vậy thời chẳng những cúng dường trả
ơn cho thầy mà thôi, mà cũng là cúng dường ba đời chư Phật
vậy".
Vua
lại vòng tay bạch Phật rằng: "Thưa Đức Thế Tôn! Con xin
tuyên truyền giáo pháp khai ngộ quần sanh, cầu mong đi về
con đường chánh kiến tu tập Thánh đạo, thì cái phước
đó làm sao? Cúi xin Phật dủ lòng từ thương xót, khai dạy
cho con và tất cả chúng sanh".
Phật
bảo vua rằng: "Hoặc có Thiện nam tử, Thiện nữ nhân nào
theo thầy nghe pháp một câu, một nghĩa, rồi lần lựa giáo
hóa thêm ra, cho đến một người nào chưa tin thì khiến cho
họ tin, người nào chưa hiểu khiến cho họ hiểu, cái công
đức như đây không lường không ngằn, chẳng phải phàm phu
mà có thể biết được".
Này
Đại vương! Giả sử như có người ở trong ngàn năm, dùng
thức ăn thuốc uống, y phục quý báu cung kính cúng dường
Phật, Pháp và Thánh Tăng, phước đức kia nhiều chăng?"
Vua
nói rằng: "Dạ nhiều lắm, không thể cân lường".
Phật
bảo: "Này Đại vương! Nếu có Thiện nam tử, người Thiện
nữ nào, theo thầy nghe thuyết Chánh giáo của Phật, rồi lần
lựa giáo hóa thêm ra cho đến một người nào cũng khiến
cho họ tin hiểu, thì cái chỗ được phước còn hơn muôn
ngàn ức bội, đối với người bố thí không bằng một phần.
Vì sao? Vì cái công đức thuyết pháp thật là không lường
vậy".
Khi
bấy giờ, Phật bảo ông A Nan: "Này A Nan! Như giáo pháp đây,
ông phải tinh cần, tuyền truyền giáo hóa, tất cả nhân dân,
thì phước đức không lường.
Này
A Nan! Ngày nay Ta dùng pháp mầu Vô thượng tuyệt đối đây
giao phó cho ông. Vậy ông phải tuyên bố, giáo hóa đi độ
khắp tất cả chúng sanh, ấy là cúng dường tất cả chư
Phật đó vậy".
Ông
A nan lại vòng tay bạch với Đức Thế Tôn rằng: "Phật giao
cho con Kinh này, mà không biết tên Kinh này là tên chi?".
Phật
bảo ông A Nan rằng: "Kinh này tên là Kinh "Vị Tằng Hữu Thuyết
Nhân Duyên". Vậy phải cần tu và lưu hành".
Khi
bấy giờ, vua Ba Tư Nặc, Thái tử Kỳ Đà, Phu nhân, Hậu cung,
bốn bộ đệ tử Thích, Phạm, Chư Thiên, Bát Bộ, Long Thần,
tám mươi muôn người, nghe Phật giảng nói đều rất vui mừng,
mỗi người đều phát tâm trước ngôi Tam Bảo, lễ Phật
rồi lui về, đúng như pháp mà vâng làm.
PHẬT
NÓI KINH NHÂN DUYÊN CHƯA TỪNG CÓ
HẾT
QUYỂN SAU
LỜI
PHỤ
Kinh
này các vị Hiền Thánh hồi xưa cũng thường thọ trì đọc
tụng, cũng như Kinh Tam Bảo, Di Đà, Hồng Danh v.v... mà quý
vị thiện nam tín nữ đọc tụng bây giờ.
Theo
tiếng gọi Kinh Di Đà Hồng Danh, mà gọi rằng Kinh Tam Bảo
không phải là không đúng: nhưng cần phải hiểu rộng, kinh
nào mà của Đức Phật nói ra, các vị Hiền Thánh phụng hành,
đều gọi là Kinh Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng vậy.
Quý
vị muốn tụng Kinh này, trước cũng "Khai Kinh" như thường,
trừ bài giới thiệu và bài tựa tụng thôi.
Và
khi tụng hết quyển, đọc bài kệ thâu Kinh như vầy:
KỆ
THÂU KINH (LỜI CẦU NGUYỆN)
Trời
rồng tám bộ người cùng Thánh,
Đến
nghe giới pháp phát tâm thành;
Ủng
hộ Phật pháp cho miên viễn,
Đồng
cùng tu học pháp Như Lai.
Bao
nhiêu vị đến đây nghe pháp,
Hoặc
ở dưới đất hoặc trên không;
Đối
với thế gian lòng thương xót,
Đêm
ngày nương ở hội pháp tràng.
Xin
cầu thế giới thường an ổn,
Trí
cao phước rộng độ quần sanh;
Bao
nhiêu tội nghiệp tiêu dứt hết,
Xa
lìa khổ não đến Niết Bàn.
Thường
lấy Giới hương thoa dồi thể,
Hằng
gìn áo Định để che thân;
Hoa
mầu Chánh trí khắp trang nghiêm,
Tùy
ở chỗ nào thường an lạc.
NAM
MÔ HỘ PHÁP CHƯ TÔN BỒ TÁT MA HA TÁT
(Tu
Viện Quảng Đức)
10-11-2007
04:34:25