Lời
Giới Thiệu
Phật
dùng ba chữ “VÔ LƯỢNG NGHĨA” để mệnh danh
cho cuốn kinh này, là vì có nghĩa không lường ở trong từng
câu từng chữ vậy. Đã có không lường nghĩa, tất nhiên
nói không kịp, nghĩ thì sai, chỉ Phật mới hoàn toàn thấu
suốt được.
Tuy
phàm trí chúng ta không thấu được Thánh trí, nhưng chúng
ta cũng có thể căn cứ vào hai chữ Vô-lượng mà hiểu.
Pháp của Phật nói ra có nhiều Vô lượng bởi vì căn cơ
chúng sinh có nhiều vô lượng, nên phải dùng vô lượng nghĩa
mầu để chỉ cho chúng sinh vô lượng tâm niệm mê lầm, vô
lượng nhân quả, vô lượng chủng loại, vô lượng thế giới...
Cho đến vô lượng công đức từ, bi, hỷ, xả, vô lượng
thần thông diệu dụng v.v. Pháp nào cũng vô lượng, vì
pháp nào cũng không ra ngoài thật tướng viên dung vô lượng.
Trong
kinh này Phật đã trả lời cho Ngài Đại Trang Nghiêm Bồ-tát
; Có một pháp môn gọi là “Vô Lượng Nghĩa”.
Bồ - tát muốn tu học pháp môn này, cần phải quán sát tất
cả các pháp bản lai tánh tướng đều rỗng rang vắng lặng,
không lớn nhỏ, không sanh diệt, không dừng nghĩ, không lay
động, không tới lui, như hư không, không có hai tướng.
Các loài chúng sinh ở trong ấy, sanh tâm vọng chấp là đây
với kia, đặng với mất, rồi khời ra các tâm niệm không
lành, gây các nghiệp dữ, luân hồi trông 6 đường, chịu
đủ các khổ độc, vô lượng ức kiếp không thể tự ra
được. Bồ - tát quán sát như vậy, sanh tâm thương xót,
phát tâm đại từ bi cứu độ tất cả chúng sinh ra khỏi
vô lượng khổ não v.v...”
Như
thế đã làm cho chúng ta nhận thấy bản ý của Phật nói
kinh này, cốt chỉ rõ thể tướng vô lượng của vô lượng
thân, tâm và sự vật. Nếu muốn chứng nhập phải từ
một nghĩa trong vô lượng nghĩa, lìa tất cả nói phô và suy
nghĩ, lóng thần lại mới hội ý được. Vậy nên Phật
đã chỉ cho chúng ta bằng lời, chúng ta phải hiểu bằng ý
ngoại mà quán sát, mà tu học.
Thầy
Mật Thể Hải Tịnh, Giáo sư Phật học đường Trung Việt,
dịch cuốn kinh này là góp vào một viên đá trong vô lượng
viên đá của nền tảng Phật giáo quốc văn, cốt ý gieo giống
vô thượng Bồ - đề trong ruộng bát thức của thế gian này.
Hội
đồng chúng tôi một lòng tùy hỷ viết mấy lời này giới
thiệu cùng hải nội chư vị thiện tri thức mong rằng khi
đọc cuốn kinh này thần lặng trí yên, thâm nhập nghĩa mầu
vô lượng, để cho tâm tánh bớt mê, nhân loại được sáng,
cõi đời ô trọc biến thành thanh tịnh trang nghiêm, thì nhân
sanh hạnh phúc còn có gì hơn nữa !
Phật
lịch 2513 - Thuận Hóa Xuân Canh Dần
Chủ
tọa Hội đồng Kiểm duyệt
Giáo
lý Phật giáo Trung Việt
THÍCH
TỊNH KHIẾT
KINH
VÔ LƯỢNG NGHĨA
Ngài
Tam Tạng Đàm-ma-già-đà Gia xá
(Thiên
Trúc) dịch ra tiếng Trung Hoa
Tôi nghe như vậy :
Một thời Phật ở trong núi Kỳ-xà, thành Vương-xá, cùng
chúng đại Tỳ-kheo cả thảy một vạn hai ngàn người, chúng
đại Bồ-tát tám vạn người, cùng những hàng Thiên, Long,
Dạ xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già
và các bậc Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di v.v. Lại
có các vị đại chuyển luân vương, tiểu Chuyển luân vương,
Kim luân vương, Ngân luân vương cùng các vị Quốc vương,
Vương tử, thần dân sĩ, nữ và các bậc Trưởng giả, đều
cùng quyến thuộc trăm ngàn muôn người, cùng nhau đi đến
chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ, nhiểu trăm ngàn vòng, đốt
hương rãi hoa, dâng các món cúng dường. Sau khi cúng dường
Phật xong lui ngồi một phía.
Các vị đại Bồ-tát như ngài Văn-thù-sư-lợi Pháp vương
tử, Đại-oai-đức-tạng Pháp vương tử, Vô-ưu-tạng Pháp
vương tử, Đại-biện-tạng Pháp vương tử, Di-lặc Bồ-tát,
Đạo-thủ Bồ-tát, Dược Vương Bồ-tát, Dược Thượng Bồ-tát,
Hoa Tràng Bồ-tát, Hoa Quang Bồ-tát, Đà-la-ni Tự-tại-vương
Bồ-tát, Quan Thế Âm Bồ-tát, Đại Thế Chí Bồ-tát, Thường-bất-khinh
Bồ-tát, Bảo-ấn-thủ Bồ-tát, Tỳ-ma-bạt-la Bồ-tát, Hương
Tượng Bồ-tát, Đại Hương Tượng Bồ-tát, Sư-từ-phấn-tấn
Bồ-tát, Sư-tử-tinh-tấn Bồ-tát, Dõng-nhuệ-lực Bồ-tát,
Sư-tử-oai-mãnh-phục Bồ-tát, Trang Nghiêm Bồ-tát, Đại Trang
Nghiêm Bồ-tát v.v. Các bậc Bồ-tát cả thấy tám vạn
ngài, đều là bậc Pháp thân đại sĩ, do tu tập giới, định,
huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến mà được thành tựu,
tâm các ngài thuyền tịch, thường ở trong chánh định, an
vui thanh tịnh, vô vi vô dục, điên đảo loạn tưởng không
còn xen vào, vắng lặng trong sạch, chuyên chí vào đạo mầu
rộng lớn, trải trăm ngàn kiếp, giữ gìn không lay động,
không lường pháp môn thấy đều hiện tiền, đặng trí huệ
lớn, thông suốt các pháp tỏ rõ phân biệt, tánh tướng chon
thật, thông suốt các pháp hiển hiện rõ rang. Lại khéo
biết căn tánh dục lạc của các chúng sinh, dùng Đà-la-ni
vô ngại biện tài, tùy thuận chuyển nói Pháp luân của chư
Phật đã chuyển. Trước hết rưới xuống những hạt
mưa nhỏ làm dịu dục trần, mở cửa Niết-bàn, thổi gió
giải thoát, trừ nhiệt não thế gian, được pháp vị thanh
lương. Kế đó lại đưa ra pháp thậm thâm mười hai
nhơn duyên, dùng để rưới tắt những khổ vô minh sanh, lão,
bệnh, tử v.v. hừng hực như lửa mặt trời nhóm lại.
Bấy giờ mới dội mưa pháp vô thượng Đại thừa, đượm
nhuần cho các chúng sinh căn lành sẵn có, gieo hạt lành vào
ruộng công đức, khiến cho tất cả đều được nảy mầm
Bồ-tát. Do mặt trời mặt trăng trí huệ, do thời tiết
phương tiện giúp đỡ tăng trưởng các sự nghiệp đại thừa,
khiến được chóng thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác, thường trú an lạc, chơn thật nhiệm mầu. Các
vị Bồ-tát ấy, có không lường đại bi cứu khổ chúng sinh,
ấy là bậc chân thiện tri thức của chúng sinh, là ruộng
phước lành lớn của chúng sinh, là bậc Thầy không mời của
chúng sinh, là chỗ vui vẻ an ổn, chỗ cứu giúp, chỗ nương
tựa lớn của chúng sinh, đâu đâu cũng vì chúng sinh làm bậc
đại lương y, bậc đạo sư, bậc đại đạo sư, làm con mắt
cho chúng sinh mù, làm lỗ tai, mũi, lưỡi, cho các chúng sinh
điếc, câm; các chúng sinh các căn hủy khuyết khiến được
lành đủ, các chúng sinh điên cuồng tán loạn khiến được
chánh niệm lớn, làm lái thuyền, người lái thuyền, giỏi
vận chở chúng sinh qua biển sanh tử, an trí bờ Niết-bàn;
làm bậc Y vương, Đại Y vương phân biệt các chứng bệnh,
tỏ rõ được tánh, theo bệnh cho thuốc, khiến đều ưa dùng;
dường như người cởi voi ngựa giỏi, hay điều phục tất
cả như sư tử mạnh, oai thần dũng cảm, các thú phải phục,
khó thể trở hoại; thường dạo chơi trong các pháp Bà-la-môn
của Bồ-tát mà với Như Lai địa vẫn kiên cố bất động,
an trú nơi sức hạnh nguyện, tịnh cõi nước Phật, không
bao lâu sẽ thành đạo Vô thượng Bồ-đề. Các vị đại
Bồ-tát này, đều có đức không thể nghỉ nghì như vậy.
Còn các bậc Tỳ-kheo tên là Đại Trí Xá-lợi-phất, thần
thông Mục-kiền-liên, Huệ mạng Tu-bồ-đề, Ma-Ha-ca-chiên-diên,
Phú-lâu-na-di-đa-la-ni-tử, A-nhã-kiều-trần-như v.v. và thiên
nhân A-na-luật, trì luật Ưu-ba-ly, thị giả A Nan, Phật tử
La-vân tức La-hầu-la, Ưu-ba-nan-đà, Ly-bà-đa, Kiếp-tân-na,
Bạt-câu-la, A-châu-đà, Ta-già-đà, đầu đà Đại-ca-diếp,
Ưu-lâu-tần-loa-ca-diếp, Già-da, Ca-diếp, Na-đề-ca-diếp v.v.
Những bậc Tỳ-kheo như vậy, cả thảy một vạn hai ngàn người,
đều đã chứng quả A-la-hán ; đã đến bậc chân chánh
giải thoát, hết cát kiết lậu không còn triền phược.
* *
*
Bấy giờ ngài Đại-trang-nghiêm Bồ-tát ma-ha-tát, quán sát
chúng hội tâm ý đều đã an định, ngài liền cùng tám vạn
Bồ-tát ma-ha-tát, từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến chỗ
Phật, đảnh lễ chân Phật, nhiễu trăm ngàn vòng, đốt hương
trời, rải hoa trời, áo trời, chuỗi anh lạc trời, vô giá
bảo châu trời từ trên không lần lượt rơi xuống, chồng
chất tư bề để cúng dường Phật. Lại, nhà trù chư
thiên, bát dĩa chư thiên, cùng các thức vị chư thiên, đầy
đủ trăm mùi, thấy sắc nghe hương tự nhiên no đủ.
Lại nữa tràng phan bảo cái, các món nhạc trời, sắp bày
các chỗ lên tiếng nhạc dịu dàng, vui vẻ cúng dường Phật.
Khi ấy cả tám vạn Bồ-tát ma-ha-tát liền quỳ trước Phật
nhất tâm đồng thanh nói kệ tán Phật :
Đức Đại-giác-ngộ, Đại-thánh-chúa,
Không
còn cấu nhiễm, không tham trước
Đấng
Điều Ngự điều phục nhơn thiên
Gió
hương đạo đức xông khắp cả
Lự
sạch trí lặng, tình đơn bạc
Ý
diệt, thức mất, tâm lặng yên
Hằng
dứt tà tư cùng vọng niệm
Không
còn các đại ấm, giới, nhập
Thân
không phải có cũng không không
Không
nhơn, không duyên, không tha, tự
Không
vuông, không tròn, không dài ngắn
Không
ra, không vào, không sanh diệt
Không
tạo, không khởi, không tác vi
Không
ngồi, không nằm, không đi đứng
Không
lay động, cũng không nhàn tịnh
Không
tiến, không thối, không an nguy
Không
phải, không chẳng, không được mất
Không
kia, không đây, không qua lại
Không
xanh, không vàng, không trắng đỏ
Không
hồng, không tía, không các sắc
Giới,
định, huệ ngũ phận thường sanh
Tam
minh lục thông hằng phát hiện
Từ
bi nhập lực tứ vô úy
Nhơn
duyên chúng sinh đủ phước lành
Hiện
thân trượng sáu tỏa ánh vàng
Đứng
đắn rực rỡ quá sang suốt
Bạch
hào xoay xoay ngời đãnh trán
Tóc
xoắn láng xanh cùng nhục kế
Đôi
mắt trong ngời như gương sang
Mày
đen miệng rộng, gò má đầy
Môi
lưỡi đỏ hồng tuồng trái chin
Bốn
mươi răng trắng giống ngọc kha
Trán
rộng mũi cao khuôn mặt đầy
Chữ
Vạn trước ngực ức Sư tử
Tay
chân mềm dịu đủ ngàn khuyên
Khẽ
tay sát sao không trống hở
Cánh
tay dong giả ngón thon vút
Da
thứa tế nhị long vòng xuôi
Nam
căn dấu kín tướng ẩn mật
Gân
nhỏ xương chuyền bụng sát sao
Trong
ngoài sang suốt không nhơ cấu
Bụi
trần nước sạch chẳng dính da
Bao
nhiêu tướng trang nghiêm như vậy
In
tuồng hiện ra có thể thấy
Mà
thật vô tướng không sắc tướng
Tuyệt
hẳn bao nhiêu tướng hữu hình
Trong
tướng vô tướng hiện thân tướng
Tùy
duyên hiện tướng như chúng sinh
Hay
khiến chúng sinh sanh hoan hỷ
Lòng
thành ý kỉnh hằng siêng năng
Vì
vậy tự cao ngã mạng hết
Thành
tựu sắc thân đẹp như kia
Nay
chúng tôi tám vạn Bồ-tát
Đều
cùng cúi đầu xin quy y
Khéo
diệt tư tưởng tâm, ý, thức
Điều Ngự tượng mã Thánh Vô trước
Cúi
đầu quy y Pháp thân Phật
Giới,
định, huệ, giải thoát tri kiến
Cúi
đầu quy y tướng nhiệm mầu
Cúi
đầu quy y khó nghĩ nghì
Tiếng
Phạm vang lừng tám món rung
Rất
sâu xa mầu nhiệm trong sạch
Bốn
đế, sáu độ, mười hai duyên
Thuận
tâm nghiệp chúng sinh mà chuyển
Người
nghe tâm ý đều mở tỏ
Liền
dứt không lường tội sanh tử
Người
nghe hoặc đặng Tu-đà-hoàn
Tu-đà,
A-na. A-la-hán
Cảnh
Duyên giác vô lậu, vô vi
Bậc
Bồ-tát vô sanh vô diệt
Hoặc
đặng không lường Đa-la-ni
Vô
ngại lạc thuyết đại biện tài
Diễn
nói, kệ tán rất nhiệm mầu
Dạo
chơi tắm rửa ao trong mát
Hoặc
nhảy hoặc bay hiện thần thông
Ra
vào lửa nước thân tự tại
Tướng
Pháp luân Như Lai là thế
Thanh
tịnh không ngằn khó nghĩ nghì
Chúng
tôi đều cùng cúi đầu lạy
Quy
y pháp luân chuyển phải thời
Cúi
đầu quy y tiếng phạm âm
Cúi
đầu quy y duyên, tế, độ
Thế
Tôn xưa trước không lường kiếp
Khó
nhọc tu hành các đức hạnh
Làm
chúa nhơn thiên cùng Long thần
Và
cả đến tất cả chúng sinh
Hay
xả những cái rất khó xả
Của
báu, vợ con và thành nước
Các
pháp trong ngoài không luyến tiếc
Đầu,
mắt, tủy, não đều cho người
Vâng
giữ tịnh giới của chư Phật
Dù
đến mất mạng không hủy phạm
Nếu
người dùng dao gậy đánh đập
Nộp
rủa mắng nhiếc đều không sân
Nhiều
kiếp hy sinh không chán nản
Luôn
luôn nhiếp tâm tại thuyền định
Học
khắp tất cả các đạo pháp
Trí
huệ thâm nhập căn chúng sinh
Vậy
nên nay được sức tự tại
Với
pháp tự tại là Pháp vương
Hay
siêng năng việc khó siêng năng
Chúng
tôi cúi đầu cung kính lạy.
Bấy giờ Ngài Đại-trang-nghiêm Bồ-tát ma-ha-tát cùng tám
vạn Bồ-tát, sau khi nói bài kệ tán Phật, đều bạch Phật
rằng :
“Thế
Tôn ! Chúng tôi cả thảy tám vạn Bồ-tát, nay ở trong
giáo pháp của Như Lai, có điều cần hỏi, chẳng hay đức
Thế Tôn có dũ lòng thương xót cho không ?
Phật bảo Ngài Đại-trang-nghiêm Bồ-tát cùng tám vạn Bồ-tát
rằng : “Hay lắm, hay lắm, Thiện nam tử ! Người
khéo biết thời, Như Lai không bao lâu sẽ nhập Niết-bàn ta
muốn cho tất cả chúng sinh không còn điều nghi ngờ.
Vậy nay ngươi muốn hỏi gì, cho ngươi tự tiện cứ hỏi”.
Khi ấy Ngài Đại-trang-nghiêm Bồ-tát cùng tám vạn liền đồng
thanh bạch Phật: “Bạch Thế Tôn ! Các Bồ-tát
ma-ha-tát muốn chóng thành đạo Vô thượng Bồ-đề, phải
tu học pháp môn gì, và pháp môn gì khiến các Bồ-tát ma-ha-tát
được chóng thành đạo Vô thượng Bồ-đề ?”
Phật bảo Ngài Đại-trang-nghiêm Bồ-tát với tám vạn Bồ-tát
rằng : “Thiện nam tử! Có một pháp môn hay khiến
Bồ-tát chóng được đạo Vô thượng Bồ-đề, nếu có Bồ-tát
tu học pháp môn ấy thì liền đặng thành đạo Vô thượng
Bồ-đề”
- Bạch Thế Tôn ! Pháp môn ấy gọi là gì ? Nghĩa
lý ra sao ? Và các vị Bồ-tát làm sao tu trì ?
Phật dạy : “Thiện nam tử ! Pháp môn ấy gọi
là “Vô Lượng Nghĩa” Bồ-tát muốn tu học Vô lượng
nghĩa ấy, phải nên quán sát tất cả các pháp từ xưa đến
nay tánh tướng vắng lặng, không lớn không nhỏ, không sanh
không diệt, không an trú không lay động, không tới không lui,
dường như hư không không có hai pháp. Bởi các chúng
sinh mê lầm chấp trước là đây là kia, là đặng là mất,
khởi niệm chẳng lành, gây các nghiệp dữ, luân hồi sáu
thú chịu các khổ độc, không lường ức kiếp chẳng ra khỏi
được. Bồ-tát ma-ha-tát quán sát như vậy, sanh tâm lân
mẫn phát tâm Đại từ bi cứu vớt chúng sinh. Lại còn
thâm nhập tất cả các pháp, pháp tướng như vậy thì sanh
pháp cũng như vậy, pháp tướng như vậy thì trú pháp cũng
như vậy, pháp tướng như vậy thì dị pháp cũng như vậy,
pháp tướng như vậy thì diệt pháp cũng như vậy, pháp tướng
như vậy mà vẫn sanh ra các ác pháp, pháp tướng như vậy
mà vẫn sanh ra các thiện pháp, cho đến trú, dị, diệt cũng
như vậy. Bồ-tát cứ thế quán sát gốc ngọn bốn tướng
sanh, trú, dị, diệt, liền đặng biết khắp tất cả.
Thử lại để quán sát tất cả các pháp niệm niệm không
an trú, liền sanh liền diệt. Lại quán một thời, một
niệm đủ có bốn tướng sanh, trú, dị, diệt. Bồ-tát
quán sát như vậy rồi, thấu rõ tâm ưa muốn của các chúng
sinh. Mà lòng ưa muốn vô lượng nên thuyết pháp cũng
vô lượng, bởi thuyết pháp vô lượng nên nghĩa cũng vô lượng.
Mà vô lượng nghĩa ấy cũng từ trong một pháp sanh ra.
Một pháp ấy tức là vô tướng vậy. Pháp vô tướng
ấy, không có tướng và không không tướng, không có tướng,
không không tướng gọi làthật tướng. Bồ-tát ma-ha-tát
an trú trong tướng chơn thật ấy rồi phát tâm từ bi, rõ
ràng chắc thật không dối, đối với các chúng sinh thiết
thực cứu vớt được khỏi các khổ não. Khổ não đã
cứu vớt rồi, lại vì thuyết pháp khiến các chúng sinh được
hưởng an vui.
Thiện nam tử ! Bồ-tát nếu được tu tập pháp môn vô
lượng nghĩa ấy chắc được chóng thành đạo Vô thượng
Bồ-đề. Thiện nam tử ! Pháp đại thừa Vô lượng
nghĩa này rất sâu xa mầu nhiệm, văn lý chơn chánh, không
gì cao quý hơn, ba đời các đức Phật đều cùng giữ gìn,
tất cả tà ma ngoại đạo không thể xâm phạm, không bị
tà kiến sanh tử phá hoại. Vậy nên, Thiện nam tử !
Bồ-tát ma-ha-tát muốn chóng thành đạo Vô thượng Bồ-đề,
phải nên tu học pháp Đại thừa Vô lượng nghĩa. Vô
thượng thậm thâm này”.
Bấy giờ ngài Đại-trang-nghiêm Bồ-tát lại bạch Phật rằng
: “Bạch Thế Tôn ! Ngài nói pháp không thể nghỉ
nghì; căn tánh chúng sinh cũng không thể nghĩ nghì, pháp môn
giải thoát cũng không thể nghĩ nghì, chúng tôi đối với
các pháp Phật dạy không còn nghi nan, mà các chúng sinh tâm
mê lầm cho nên cần phải hỏi lại. Bạch Thế Tôn !
Từ khi Ngài thành đạo đến nay, đã hơn bốn mươi năm, thường
vì chúng sinh diễn thuyết nghĩa bốn tướng của các pháp
là: Khổ, Không, Vô thường, Vô ngã, không lớn không
nhỏ, không sanh không diệt, nhất tướng vô tướng, pháp tánh
pháp tướng xưa nay vắng lặng, không đi không lại, không
ra không vào, nếu có người nghe, hoặc đặng Noãn pháp Đảnh
pháp, Thế đệ nhất pháp, hoặc được quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm,
A-na-hàm, A-la-hán và Bích-chi Phật đạo. Nếu người
phát tâm đại thừa, thì lại chứng lên bậc Sơ địa, Nhị
địa, Tam địa, cho đến Thập địa. Vậy, nghĩa của
Phật nói ngày trước cùng với nghĩa của Phật nói ngày nay
có khác gì không. Mà Phật bảo Pháp Đại thừa Vô lượng
nghĩa ấy, Bồ-tát tu hành chắc đặng chóng thành đạo Vô
thượng Bồ-đề. Nghĩa này thế nào. cúi xin đức Thế
Tôn dủ lòng thương xót, khắp vì chúng sinh phân biệt nói
rõ, hầu khiến hiện tại và vị lai có người nghe pháp không
còn mắc phải lưới nghi”.
Khi ấy Phật bảo ngài Đại-trang-nghiêm Bồ-tát rằng :
“Hay lắm, hay lắm ! Thiện nam tử ! khéo hỏi Như
Lai nghĩa Đại thừa Vô thượng thậm thâm vi diệu ấy, cho
biết ngươi đã làm nhiều lợi ích an vui cho nhơn thiên, cứu
khổ chúng sinh, thật là bậc Đại Từ bi tin thật không dối;
do nhơn duyên này chắc được chóng thành đạo Vô thượng
Bồ-đề, cùng khiến tất cả chúng sinh đời nay đời sau
chóng thành đạo Vô thượng Bồ-đề. Thiện nam tử !
Từ khi ta ngồi dưới gốc cây Bồ-đề, an tọa chon Đạo
tràng sáu năm mới đặng thành đạo Vô thượng Bồ-đề,
ta lấy Phật nhãn xem tất cả các pháp không thể diễn nói.
Vì sao ? Vì biết tâm ưa muốn của chúng sinh không đồng,
và không đồng nên dùng các lối thuyết pháp, trong các lối
thuyết pháp chỉ dùng sức phương tiện hơn 40 năm, chưa chỉ
rõ nghĩa chơn thật, nên chúng sinh đắc đạo sai khác, mà
chưa được thành đạo Vô thượng Bồ-đề. Thiện nam
tử! Pháp của Phật ví như nước hoặc giếng, hoặc
ao, hoặc sông, hoặc hói hoặc khe rảnh, hoặc biển lớn, đều
hay nửa sạch nhơ uế. Nước pháp kia cũng như vậy, hay
rửa các phiền não nhơ uế của chúng sinh. Thiện nam
tử ! tánh nước chỉ một, mà ở nơi sông, hói, giếng,
ao, khe, rãnh, biển lớn mỗi mỗi sai khác, mà ba pháp noãn,
đảnh, thế đệ nhất, bốn quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm,
A-na-hàm, A-la-hán, hai đạo Bồ-tát, Phật không đồng.
Thiện nam tử ! công dụng của nước tuy đều là rửa,
mà giếng không phải ao, ao không phải sông, hói khe rãnh không
phải biển. Như Lai thế hùng, với pháp tự tại, những
pháp nói ra cũng lại như vậy, đầu tiên chặng giữa, hay
rốt sau đều hay sạch trừ phiền não cho chúng sinh, mà đầu
tiên không phải chặng giữa, chặng giữa không phải rốt
sau, đầu tiên, chặng giữa, rốt sau văn tự tuy một mà nghĩa
đều khác. Thiện nam tử ! Ta từ khi dưới gốc
cây Bồ-đề đứng dậy, đi đến vườn Lộc Uyển thành Ba-la-nại,
vì A-nhã-kiều-trần-như, cả chúng năm người chuyển Tứ
đế pháp luân, cũng nói các pháp bản lai vắng lặng, niệm
niệm sanh diệt, thay đổi không ngừng. Trung gian và các
khổ khác vì các Tỳ-kheo với chúng Bồ-tát, phân biệt giảng
nói mười hai nhơn duyên, sáu pháp Ba-la-mật, cũng nói pháp
bản lai vắng lặng niệm niệm sanh diệt, thay đổi không ngừng.
Nay ở nơi đây lại diễn nói kinh Đại thừa Vô lượng nghĩa
này cũng nói các pháp bản lai vắng lặng, niệm niệm sanh
diệt thay đổi không ngừng.
Thiện nam tử ! Vậy nên nói trước tiên, khoản giữa
hay rốt sau, văn tự là một, mà nghĩa có khác nhau. Nghĩa
khác nên chỗ hiểu của chúng sinh cũng khác, vì chỗ hiểu
khác nên sự đắc đạo, đắc quả cũng khác.
Thiện nam tử ! Như Lai đầu tiên nói pháp Tứ đế, là
vì người cầu đạo Thanh văn, mà tám ức Chư thiên xuống
nghe pháp, phát tâm Bồ-đề ; khoản giữa ở các nơi,
diễn thuyết pháp thậm thâm mười hai nhân duyên là vì người
cầu Bích-chi Phật, mà không lường chúng sinh phát Bồ-đề
tâm, hoặc trú quả Thanh văn; thử lại nói mười hai bộ kinh
thuộc về Phương đẳng, hay Ma-ha-bàt-nhã, Hoa-nghiêm thảy
không tỏ nói nhiều kiếp tu hành của Bồ-tát, mà trăm ngàn
Tỳ-kheo, muôn ức nhơn thiên không lường chúng sinh đặng
quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, hay Bích-chi Phật thuộc
về pháp mười hai nhơn duyên.
Thiện nam từ ! Bởi nghĩa ấy, cho biết nói đồng mà
nghĩa sai khác ; nghĩa khác nên chúng sinh hiểu khác ; vì
hiểu khác, nên chỗ đắc pháp, đắc quả, đắc đạo cũng
khác. Vậy nên Thiện nam tử ! Từ khi ta đắc đạo
nói pháp đầu tiên, cho đến ngày nay giảng nói pháp Đại
thừa Vô lượng nghĩa chưa hề không nói đến nghĩa “khổ,
không, vô thường, vô ngã” không phải chơn, không phải giả,
không lớn không nhỏ, từ xưa không sanh nay cũng không diệt,
một tướng vô tướng, pháp tướng pháp tánh chẳng đi chẳng
đến, mà các chúng sinh hằng bị bốn tướng đổi dời.
Thiện nam tử ! Vì nghĩa ấy, tất cả các đức Phật
không có hai lời, hay dùng một lời ứng khắp các tiếng,
hay dùng một thân mà thị hiện trăm ngàn muôn ức na do tha
không lường không số hằng hà sa thân ; trong mỗi một
thân lại hiện bấy nhiêu trăm ngàn muôn ức na do tha vô số
hằng hà sa các loại thân hình; mỗi một hình lại hiện bầy
nhiêu trăm ngàn muôn ức na do tha vô số hằng hà sa thân.
Thiện nam tử ! ấy là cảnh giới thậm thâm bất tư
nghị của chư Phật, hàng nhị thừa không sao biết được,
cho đến thập trú Bồ-tát cũng không sao bì kịp, chỉ Phật
với Phật mới hay rốt ráo. Thiện nam tử ! vậy
nên ta nói pháp Đại thừa vô lượng nghĩa thậm thâm vi diệu,
văn lý chân thành, cao quý không gì hơn, ba đời các đức
Phật đều cùng giữ gìn, không có các ma ngoại đạo xâm
phạm, không bị tà kiến sanh tử phá hoại. Bồ-tát ma-ha-tát
nếu muốn chóng thành đạo Vô thượng Bồ-đề, phải nên
tu học pháp Đại thừa Vô Lượng Nghĩa vô thượng thậm thâm
này”.
Phật dạy lời ấy rồi, bấy giờ trong ba ngàn đại thiên
thế giới sáu món rung động, ở trên hư không tự nhiên rải
xuống các món hoa trời, hoa Ưu-bát-la, hoa Bát-đàm-ma, hoa Câu-vật-đầu,
hoa Phân-đà-lợi; lại rãi vô số hương trời, áo trời, chuỗi
anh lạc trời, vô giá bảo châu trời ở trên hư không lần
lượt rơi xuống, cúng dường Phật và các vị Bồ-tát cùng
các vị Thanh văn đại chúng; lại nữa nhà trù chư thiên,
bát dĩa chư thiên cùng các thức vị chư thiên đầy đủ trăm
mùi ; với lại tràng phan bảo cái chư thiên, các món
nhạc khí chư thiên, sắp bày khắp chỗ, gảy lên âm nhạc
nhiệm mầu, ca ngợi đức Phật. Lại sáu món rung động,
hằng hà sa thế giới các đức Phật phương Đông cũng rải
hoa trời, hương trời, áo trời, chuỗi anh lạc trời, vô giá
bảo châu trời, nhà trù chư thiên, bát dĩa chư thiên, đủ
trăm thức vị chư thiên, cùng tràng phan bảo cái chư thiên,
các món nhạc khí chư thiên gảy lên âm nhạc nhiệm mầu ca
ngợi đức Phật và các vị Bồ-tát cùng hàng Thanh văn đại
chúng ; phương Nam, phương Tây, phương Bắc cùng bốn
phía trên dưới cũng đều như vậy. Khi ấy trong chúng ba vạn
hai ngàn Bồ-tát ma-ha-tát đặng Vô lượng nghĩa tam muội,
ba vạn bốn ngàn Bồ-tát ma-ha-tát đặng vô lượng vô số
pháp Đà-la-ni, hay chuyển pháp luân bất thối của ba đời
tất cả các đức Phật. Còn các bậc Tỳ-kheo, Tỳ-kheo
ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Thiên, Long, Dạ xoa, Càn-thát-ba, A-tu-la,
Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già và các vị Chuyển luân
vương, đại Chuyển luân vương, tiểu Chuyển luân vương,
ngân Luân vương, thiết Luân vương v.v... với các vị Quốc
vương, vương tử, thần, dân, sĩ, nữ, cùng các bậc đại
trưởng giả với trăm ngàn quyến thuộc, khi nghe Phật dạy
kinh pháp này, hoặc đặng Noản pháp, Đảnh pháp, Nhẫn pháp,
Thế đệ nhất pháp, Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán,
hay Bích-chi Phật. Lại đặng vô sanh pháp nhẫn của Bồ-tát,
lại đặng một pháp Đà-la-ni, hai pháp Đà-la-ni, ba pháp Đà-la-ni,
bốn pháp Đà-la-ni, cho đến năm, sáu, bảy, tám, chin, mười
pháp Đà-la-ni. Lại đặng trăm ngàn vạn ức pháp Đà-la-ni.
Lại đặng không lường không số hằng hà sa a tăng kỳ pháp
Đà-la-ni, đều hay tùy thuận chuyển pháp luân bất thối chuyển,
vô lượng chúng sinh phát tâm vô thượng Bồ-đề.
Bấy giờ Ngài Đại-trang-nghiêm Bồ-tát ma-ha-tát lại bạch
Phật rằng :
“Thế
Tôn ! Ngài dạy pháp Đại thừa Vô lượng nghĩa, vô thượng
thậm thâm vi diệu này thật là sâu xa, thật là sâu xa !
Vì sao ? Ở trong chúng hội này các vị Bồ-tát ma-ha-tát
với bốn chúng Thiên, Long, Quỷ, Thần, Quốc vương, Thần
dân cùng các chúng sinh nghe pháp Đại thừa vô lượng nghĩa
vô thượng thậm thâm này đều chứng đặng pháp Đà-la-ni,
ba pháp, bốn quả và Bồ-đề tâm. Cho biết pháp này
văn lý chơn chánh cao quý không gì hơn, ba đời các đức Phật
đều cùng giữ gìn, không có các ma ngoại đạo xâm phạm,
không bị tà kiến sanh tử phá hoại. Vì sao ? Bởi
một khi nghe được pháp này tức thọ trì tất cả các pháp,
như có chúng sinh được nghe pháp này thời được lợi lớn.
Vì sao ? Nếu hay tu hành thì được chóng thành đạo vô
thượng Bồ-đề. Còn có những chúng sinh không được
nghe pháp này, phải biết thế là mất hẳn lợi lớn, qua không
lường, không ngằn không thể nghĩ nghì a tăng kỳ kiếp trọn
chẳng đặng thành đạo vô thượng Bồ-đề. Vì sao ?
Bởi không biết đường Bồ-đề rộng lớn ngay thẳng mà
đi vào đường hiểm trở nhiều chướng ngại vậy.
Bạch Thế Tôn ! Kinh điển này không thể nghĩ nghì, xin
Ngài từ bi thương xót vì khắp đại chúng diễn nói việc
thậm thâm bất tư nghị của kinh pháp này, khiến cho chúng
sinh được chóng thành đạo vô thượng Bồ-đề.
Bạch Thế Tôn ! Kinh pháp này từ đâu mà đến ? Đi đến
đâu ? An trú chỗ nào ? Mới có sức không lường
công đức không thể nghĩ nghì ấy, khiến các chúng sinh chóng
thành đạo vô thượng Bồ-đề ?
Phật bảo ngài Đại-trang-nghiêm Bồ-tát ma-ha-tát rằng :
“Hay lắm ! Hay lắm ! Thiện nam tử ! Phải
vậy, phải vậy ! Thật đúng như lời người nói.
Thiện nam tử ! Ta nói kinh pháp này rất thâm diệu, rất
thâm diệu, hẳn thật rất thâm diệu. Vì sao. Vì
kinh pháp này hay khiến chúng sinh chóng thành đạo vô thượng
Bồ-đề. Vì một khi nghe được pháp này là thọ trì
tất cả các pháp. Đối với các chúng sinh rất có lợi
lớn. Vì đi con đường lớn, ngay thẳng không trở ngại.
Thiện nam tử ! Ngươi hỏi kinh pháp này từ đâu mà đến,
đi về đâu và an trú chỗ nào, vậy ngươi hãy lóng nghe :
“Thiện nam tử ! Kinh pháp này vốn từ trong nhà các
đức Phật mà ra đi, đến nơi tất cả chúng sinh phát tâm
Bồ-đề, và an trú nơi chỗ ở của các vị Bồ-tát, thiện
nam tử ! Kinh pháp này đến như vậy, đi như vậy và
an trú như vậy. Vậy nên có sức không lường công đức
không thể nghĩ nghì được ấy, hay khiến chúng sinh chóng
thành đạo vô thượng Bồ-đề. Thiện nam tử !
Ngươi có muốn nghe kinh pháp nay lại có 10 công đức không
thể nghĩ nghì không ?”
Ngài Đại-trang-nghiêm Bồ-tát bạch rằng : “Chúng tôi
xin muốn nghe”
Phật dạy : 1.- Thiện nam tử ! Kinh này hay khiến
Bồ-tát chưa phát Bồ-đề tâm liền phát Bồ-đề tâm, người
không từ nhơn khởi tâm từ nhơn, người ưa giết hại khởi
tâm đại bi, người hay tật đố khởi tâm tùy hỷ, người
mê đắm khởi tâm hay xả, người xan tham khởi tâm bố thí,
người kiêu mạn khởi tâm trì giới, người nhiều sân nhuế,
khởi tâm nhẫn nhục, người giãi đãi khởi tâm tinh tấn,
người tán loạn khởi tâm thuyền định, người ngu si khởi
tâm trí huệ, người không lợi tha khởi tâm lợi tha, người
gây thập ác khởi tâm thập thiện, người ưa hữu vi, chí
hướng vô vi, người có thối tâm khởi tâm bất thối, người
làm hữu lậu khởi tâm vô lậu, người nhiều phiền não khởi
tâm trừ diệt. Thiện nam tử ! Ấy gọi sức công
đức không thể nghĩ nghì thứ nhất của kinh này.
2.- Thiện nam tử ! Như có chúng sinh được nghe Kinh
này, hoặc một biến, hoặc một bài kệ, cho đến một câu,
thời hay thông suốt trăm ngàn ức nghĩa không lường số kiếp
cũng không làm sao pháp ấy có không lường nghĩa. Thiện
nam tử ! Kinh này ví như hạt, mỗi mỗi lại sanh trăm
ngàn vạn hạt khác, như vậy lần lữa cho đến vô lượng.
Kinh Pháp này cũng vậy, từ trong một pháp sanh trăm ngàn vạn
nghĩa khác, như vậy lần lữa cho đến vô lượng vô biên
nghĩa lý, nên gọi kinh này là “Vô Lượng Nghĩa”. Thiện
nam tử ! Ấy gọi sức công đức không thể nghĩ nghì thứ
hai của kinh này.
3.- Thiện nam tử ! Như có chúng sinh được nghe Kinh
này hoặc một biến, hoặc một bài Kệ, cho đến một câu,
thông suốt trăm ngàn muôn ức nghĩa rồi, tuy có phiền não
như không phiền não, ra vào sanh tử không tâm lo sợ, với
các chúng sinh, sanh tâm thương xót, với tất cả các pháp,
được tâm dõng mãnh, như kẻ tráng sĩ hay gánh vác những
cái nặng nề. Người trì Kinh này cũng vậy, hay gánh
vác trọng nhậm Vô thượng Bồ-đề, gánh vác chúng sinh ra
khỏi đường sanh tử, chưa hay độ mình đã hay độ người,
như người lái thuyền thân mắc bịnh nặng tử thi thất điều,
an nghĩ bờ bên này, nhưng có chiếc thuyền tốt và bền chắc,
thường sắm sữa khí cụ cho những người qua bên kia đi.
Người trì Kinh này cũng vậy, tuy thân bị ở trong năm đường
hằng bị một trăm tám bệnh rang buộc, an nghĩ bờ vô minh
lão tử bên này, mà có Pháp Đại thừa “Vô Lượng Nghĩa”
chắc thật này, hay độ chúng sinh, nếu kẻ biết y theo lời
nói mà tu hành, đặng qua khỏi sanh tử. Thiện nam tử
! Ấy gọi là sức công đức không thể nghĩ nghì thứ
ba của Kinh này.
4.- Thiện nam tử ! Như có chúng sinh đặng nghe Kinh
này, hoặc một biến, hoặc một bài Kệ, cho đến một câu,
đặng tâm dõng mãnh, tuy chưa tự độ, mà đã độ người,
làm quyến thuộc với các vị Bồ-tát, các đức Phật thường
đến thuyết pháp cho những người ấy. Người ấy nghe
pháp rồi, liền thọ trì được, tùy thuận không trái, lại
còn theo cơ nghi vì kẻ khác mà giảng nói. Thiện nam tử
! Người ấy ví như một Hoàng tử mới sanh của bà Hoàng
hậu, hoặc một ngày hoặc hai ngày cho đến bảy ngày, hoặc
một tháng hoặc hai tháng cho đến bảy tháng, hoặc một tuổi
hoặc hai tuổi cho đến bảy tuổi, tuy chưa lãnh trì việc
nước, nhưng đã được Thần dân tôn kính, cùng bạn tác
với những Vương tử khác. Vua và Phu nhơn rất thương
mến, thường cùng nói năng. Vì sao ? Bởi còn nhỏ
thơ vậy. Thiện nam tử ! Người trì Kinh này cũng vậy,
chư Phật là Quốc vương, Kinh này là Hoàng hậu, hòa hiệp
mà sanh ra người con Bồ-tát, nếu Bồ-tát này đặng nghe kinh
này, hoặc một câu, hoặc một bài Kệ, hoặc một biến hoặc
hai biến ; hoặc một trăm, một ngàn, một vạn, một
ức, cho đến muôn ức hằng hà sa vô lượng vô số biến,
tuy chưa thể hiệp được chơn tánh, tuy chưa chấn động được
ba ngàn đại thiên quốc độ, tiếng phạm vang rầm, chuyển
đại Pháp luân, nhưng đã được hết thảy Tứ chúng, bác
bộ tôn kính làm quyến thuộc với các vị Đại Bồ-tát,
thâm nhập pháp bí mật của chư Phật, có diễn nói gì không
còn trái lỗi ; vì là, sơ học nên được lòng Từ bi
của chư Phật hộ niệm. Thiện nam tử ! Ấy gọi
sức công đức không thể nghĩ nghì thứ tư của Kinh này.
5.- Thiện nam tử ! Như gã Thiện nam người Thiện
nữ, hoặc khi Phật ở đời, hoặc sau khi Phật diệt độ,
có người thọ trì đọc tụng, hoặc viết chép Kinh đại
thừa “Vô Lượng Nghĩa Vô Thượng Thậm Thâm” này, người
ấy tuy là còn đủ các phiền não ràng buộc, chưa thể xa
lìa các việc phàm phu, mà hay thị hiện Đại Bồ-đề đạo,
kéo dài một ngày ra làm trăm kiếp, rút trăm kiếp lại làm
một ngày, khiến chúng sinh vui mừng tín phục. Thiện
nam tử ! Gã Thiện nam người Thiện nữ ấy, ví như rồng
con mới sanh ra bảy ngày, đã không ùn mây xuống mưa.
Thiện nam tử ! Ấy gọi sức công đức không thể nghĩ
nghì thứ năm của Kinh này.
6.- Thiện nam tử ! Như gã Thiện nam người Thiện
nữ, hoặc khi Phật ở đời, hoặc sau khi Phật diệt độ,
thọ trì đọc tụng kinh điển này, tuy đủ phiền não, mà
vì chúng sinh thuyết pháp khiến đặng xa lìa phiền não sanh
tử, diệt tất cả khổ não, chúng sinh nghe rồi, tu hành đắc
pháp, đắc quả, đạo như Phật không khác. Ví như vị
Vương tử tuy còn trẻ thơ, nhưng nếu vua đi du tuần, hoặc
bị tật bệnh, ủy Vương tử lãnh trị việc nước, bấy
giờ Vương tử y sắc mệnh Đại vương, như pháp dạy bảo
khắp các quan lieu, tuyên lưu chánh hóa cõi nước nhân dân,
thảy đều yên ổn như khi Đại vương lãnh trị không khác.
Gả Thiện nam, người Thiện nữ thọ trì Kinh này cũng lại
như vậy, hoặc Phật ở đời hoặc sau khi Phật diệt độ,
gã Thiện nam người Thiện nữ ấy tuy chưa an trú vào bậc
bất động, y theo thuyết giáo của Phật diễn giảng lưu bố.
Các chúng sinh nghe rồi, nhất tâm tu hành dứt trừ phiền não,
đắc pháp, đắc quả cho đến đắc đạo. Thiện nam
tử ! Ấy gọi sức công đức không thể nghĩ nghì thứ
sáu của Kinh này.
7.- Thiện nam tử ! Như gã Thiện nam, người Thiện
nữ, khi Phật ở đời hay sau khi Phật diệt độ, được nghe
Kinh này, vui mừng tin kỉnh, sanh tâm hy hữu, thọ trì đọc
tụng, viết chép, giảng nói, như pháp tu hành, phát tâm Bồ-đề,
khởi các niệm lành, dấy lòng từ bi muốn độ tất cả chúng
sinh khổ não, tuy chưa tu hành được sáu pháp Ba-la-mật, sáu
pháp Ba-la-mật tự nhiên hiện tiền, liền ở thân này được
Vô sanh pháp nhẫn, sanh tử phiền não nhất thời tiêu hoại,
lên đến bậc Thất địa, thành vị đại Bồ-tát. Ví
như người mạnh, vì vua dẹp giặc, khi dẹp giặc xong, Vua
rất vui mừng, phong thưởng cho nữa nước. Kẻ thiện
nam, người Thiện nữ thọ trì Kinh này cũng vậy, với những
kẻ tu hành, người này là mạnh mẽ hơn, Pháp bảo lục độ
không cầu tự đến, sanh tử oán địch tự nhiên tiêu tán,
chứng Vô sanh nhẫn, được an vui phong thưởng một nữa quốc
bảo của Phật. Thiện nam tử ! Ấy gọi sức công
đức không thể nghĩ nghì như thứ bảy của Kinh này.
8.- Thiện nam tử ! Như gã Thiện nam, người Thiện
nữ, khi Phật ở đời, hoặc sau khi Phật diệt độ, gặp
được Kinh này, tôn trọng tín kỉnh, xem như thân Phật không
khác, ưa mến Kinh này, thọ trì đọc tụng, viết chép, cúng
dường, như pháp tu hành bền vững giới, nhẫn, và bố thí,
phát tâm từ bi thâm thiết, dùng Kinh Đại thừa “Vô Lượng
Nghĩa” này, vì người giảng nói, truyền bá khắp nơi, như
có người từ trước không tin tội phước, đem Kinh này ra
dùng các món phương tiện, giáo hóa buộc phải tin, nhờ oai
lực của Kinh này, khiến tâm người ấy, thoặt nhiên hồi
đầu, lòng tin đã phát, dõng mãnh tinh tấn, nhờ oai đức,
thế lực của Kinh này, rồi cũng đắc Đạo, đắc quả.
Vậy nên gã Thiện nam người Thiện nữ ấy, nhờ công đức
giáo hóa, nên liền nơi thân này được Vô sanh pháp nhẫn,
tiến lên bậc trên cùng làm quyến thuộc với các Bồ-tát,
chóng được thành tựu chúng sinh trang nghiêm Phật độ, không
lâu thành được đạo Vô thượng Bồ-đề. Thiện nam
tử ! Ấy gọi sức công đức không thể nghĩ nghì thứ
tám của Kinh này.
9.- Thiện nam tử ! Như gã Thiện nam, người Thiện
nữ, khi Phật ở đời hoặc sau khi Phật diệt độ, gặp được
Kinh này, vui mừng hớn hở đặng chưatừng có, thọ trì, đọc
tụng, viết chép cúng dường, vì các chúng sinh, phân biệt
giảng nói, như vậy các nghiệp đời trước, cùng các tội
chướng nặng nhất thời diệt hết, liền đặng thanh tịnh,
được đại biện tài, thứ lớp trang nghiêm các pháp Ba-la-mật,
đặng các Tam muội, Thủ Lăng Nghiêm Tam muội, vào cửa Đại
tổng trì, đặng sức tinh tấn chóng đặng bước lên bậc
trên, khéo hay phân thân khắp mười phương cõi nước, cứu
giúp tất cả 25 loài chúng sinh khổ não đều được giải
thoát. Vậy nên Kinh này có sức như vậy. Thiện
nam tử ! Ấy gọi sức công đức không thể nghĩ nghì
thứ chin của kinh này.
10.- Thiện nam tử ! Như gã Thiện nam, người Thiện nữ,
hoặc khi Phật ở đời hoặc sau khi Phật diệt độ, nếu
được kinh này, vui mừng sanh lòng hy hữu, tự mình đã hay
thọ trì đọc tụng, viết chép, cúng dường, như lời dạy
tu hành, lại hay khắp khuyến người tại gia xuất gia thọ
trì đọc tụng, viết chép, cúng dường, giảng nói, như pháp
tu hành ; các người tu hành ấy nhờ oai lực Kinh này,
mà được đắc Đạo, đắc quả, đều do sức Từ Bi ân cần
khuyến hóa của gã Thiện nam người Thiện nữ ấy, vậy gã
Thiện nam, người Thiện nữ ấy, liền ở thân này, chứng
được không lường pháp Đà-la-ni, đương ở địa vị phàm
phu, tức thời phát vô số a tăng kỳ thệ nguyện rộng lớn,
cứu độ tất cả chúng sinh, thành tựu đại bi, rộng khắp
cứu khổ, dày chứa căn lành, lợi ích tất cả, pháp thủy
chảy thấm, khô khan được đượm, dùng pháp dược ấy thí
cho chúng sinh, khiến được an vui tất cả. Lại thấy
mình vượt lên, an trú bậc Pháp vân, ân đức nhuần khắp,
lòng từ bao phủ không ngoài, nhiếp các chúng sinh khổ, khiến
vào dấu Đạo. Vậy nên người ấy không bao lâu sẽ
đặng thành đạo “VôThượng Chánh Đẳng Bồ Đề”.
Thiện nam tử ! Ấy gọi sức công đức không thể nghĩ
nghì thứ mười của Kinh này.
Thiện nam tử ! Kinh “Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa” vô
thượng này, rất có sức thần lớn, cao quý không gì hơn,
hay khiến phàm phu đều thành Thánh quả, hằng lìa sanh tử,
đều được tự tại. Vậy nên Kinh này gọi là “Vô
Lượng Nghĩa”. Hay khiến chúng sinh ở nơi chỗ phàm
phu, sanh khởi không lường giống đạo Bồ-tát, làm cho cây
công đức càng được tươi tốt, chồi nhánh thêm nhiều.
Vậy nên Kinh này gọi là sức công đức không thể nghĩ nghì
vậy
Bấy giờ Ngài Đại-trang-nghiêm Bồ-tát ma-ha-tát, cùng tám
vạn Bồ-tát ma-ha-tát đồng thanh bạch Phật rằng :
“Bạch Thế Tôn ! Như lời Phật dạy Kinh “Đại thừa
Vô Lượng Nghĩa” vô thượng thậm thâm vi diệu này văn lý
chơn chánh, cao quý không gì hơn, ba đời các đức Phật đều
cùng giữ gìn, không có các ma ngoại đạo xâm phạm, không
bị tà kiến sanh tử phá hoại, vậy nên Kinh này mới có mười
món công đức không thể nghĩ nghì ấy, rất có lợi ích không
lường tất cả chúng sinh, khiến tất cả Bồ-tát ma-ha-tát
đều đặng pháp Tam muội Vô lượng nghĩa, hoặc đặng trăm
ngàn pháp Đà-la-ni, hoặc đặng các pháp nhẫn của các bậc
Bồ-tát, hoặc đặng bốn quả về Duyên giác, La hán.
Thế Tôn thương xót, khéo vì chúng tôi nói pháp như vậy,
khiến chúng tôi đặng pháp lợi lớn, rất là lạ lùng, chưa
từng có vậy. Ân đức Thế Tôn thật khó báo đền !
Ngài Đại-trang-nghiêm Bồ-tát nói lời ấy rồi bấy giờ
ba ngàn đại thiên thế giới, sáu món rúng động. ở trên
không lại rải vô số các món hoa trời, hoa Ưu-bác-la, hoa
Bác-đàm-ma, hoa Câu-vật-đầu, hoa Phân-đà-lợi. Lại
rải vô số các món hương trời, áo trời chuỗi Anh lạc trời,
vô giá bảo châu trời ở trên không lần lượt rơi xuống,
cúng dường Phật và các Bồ-tát cùng Thanh văn đại chúng.
Lại nhà trù chư thiên, bát dĩa chư thiên, đủ trăm thức
vị chư thiên, thấy sắc nghe hương, tự nhiên no đủ.
Lại có tràng phan bảo cái, cùng các món nhạc khí chư thiên
sắp bày các chỗ, lên tiếng nhạc nhiệm mầu. Ca ngợi đức
Phật. Lại thêm sáu món rúng động, hằng hà sa thế
giới các đức Phật phương Đông, cũng rải hoa trời, hương
trời áo trời, chuỗi anh lạc trời, vô giá bảo châu trời,
nhà trù chư thiên, bát dĩa chư thiên, đủ trăm thức vị chư
thiên, thấy sắc nghe hương tự nhiên no đủ; tràng phan bảo
cái và các món âm nhạc chư thiên, lên tiếng nhạc nhiệm
mầu, ca ngợi đức Phật với các Bồ-tát và các vị Thanh
văn đại chúng. Phương Nam, phương Bắc, phương Tây cùng
bốn phía trên dưới cũng vậy.
Bấy giờ Phật bảo Ngài Đại-trang-nghiêm Bồ-tát ma-ha-tát
cùng tám vạn Bồ-tát ma-ha-tát rằng :
“Các người đối với Kinh này, nên sanh lòng tin kỉnh thâm
thiết, như pháp tu hành, siêng năng lưu bố, rộng hóa hết
thảy, thường nên ân cần, ngày đêm giữ gìn, khiến các
chúng sinh đều được pháp lợi. Các người thật là
Đại từ Đại bi, lập lấy thần thông nguyện lực, giữ
gìn Kinh này chớ cho đình trệ, ở đời sau đây khiến đặng
lưu hành khắp cõi Diêm-phù-đề, khiến tất cả chúng sinh
được thấy nghe đọc tụng, viết chép, cúng dường.
Do nhân duyên ấy, cũng khiến các ngươi được chóng thành
đạo Vô thượng Bồ-đề.
Bấy giờ Ngài Đại-trang-nghiêm Bồ-tát ma-ha-tát cùng tám
vạn Bồ-tát ma-ha-tát, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến
nơi chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, nhiễu trăm
ngàn vòng liền quỳ ở trước cùng lên tiếng bạch rằng
:
“Bạch đức Thế Tôn ! Chúng tôi lấy làm hoan hỷ, được
Thế Tôn thương xót, vì chúng tôi giảng nói kinh đại thừa
Vô lượng nghĩa vô thượng thậm thâm vi diệu này, chúng tôi
kính vâng lời Phật dày, sau khi Phật diệt độ, sẽ lưu bố
Kinh điển này khắp nơi khiến tất cả chúng sinh đều được
thọ trì đọc tụng, viết chép cúng dường. Kính xin
đức Thế Tôn chớ để lòng lo, chúng tôi sẽ dùng nguyện
lực khắp khiến tất cả chúng sinh đều được sức oai thần
của Kinh này”.
Bấy giờ Phật khen : Hay lắm hay lắm !
Các Thiện nam tử ! Các ngươi nay thật là Phật tử chân
chánh, lòng Đại tứ đại bi rất hay cứu khổ ách vậy.
Các ngươi thật là ruộng phước lành tốt của chúng sinh,
là bậc Thầy chỉ đường rất khéo giỏi của chúng sinh,
là chỗ nương dựa lớn của chúng sinh, là nhà đại thí của
chúng sinh thường dùng pháp lợi ban cho tất cả.
Bấy giờ tất cả chúng hội, đều rất hoan hỷ, lễ Phật
thọ trì mà lui.
Dịch
xong ngày 4 tháng 3 Phật lịch 2508.
Chú
thích :
A-la-hán
: Tiếng Phạm (Arhat). Trung Hoa dịch là ứng cúng hay Vô
sanh. Nghĩa là khi tu hành đến bậc này, đã dứt hết
mê lầm, phiền não thuộc cõi Sắc và Vô sắc, không còn sanh
tử luân hồi nữa, lại được Nhân, Thiên cúng dường.
Lại bậc này cũng là quả cực điểm về Tiểu thừa, vớI
pháp Tiểu thừa không còn phải học gì nữa nên cũng gọi
là Vô học, là quả thứ tư sau quả Dự lưu.
Anh
Lạc: Tiếng Phạm (Keyura). Theo tục Ấn Độ không luận
người trai kẻ gái, thuộc hạng thường dân hay quý phái,
thường hay xâu ngọc thành chuổi để đeo vào mình, làm đồ
trang sức chuổi ấy gọi là Anh Lạc.
A-na-hàm:
Tiếng Phạm (Augâmi). Trung Hoa dịch Bất lai không trở
lại là quả thứ ba sau quả Dự lưu. Bậc này đã đoạn
hết phiền não tư hoặc thuộc cõi Dục, nên không còn đầu
thai về cõi ấy nữa.
A-nhã-kiều-trần-như
: Tiếng Phạm (Ajuâta-Kaundiuya). Trong năm vị Đệ
tử đầu tiên được thọ Pháp của Phật, Ngài này là một.
Người thường ưa ở chỗ vắng lặng, yên tu, lòng ly các
dục nhiễm, nên gọi là A-nhã. Năm vị Đệ tử : 1.-
Kiều-trần-như, 2.- Ngạch-đệ As Vajil, 3.-
Bạc-đề Bhadrika, 4.- Thập-lực-ca-diếp Dasabala-Kâsyapa,
5.- Ma-nam-câu-ly Mahâ-nâma-kulika.
A-nhã-Câu-lâu
: Tên riêng ông A-nhã-kiều-trần-như.
A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề
: là tiếng Phạm, Trung Hoa dịch la Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác.
A-tăng-kỳ
: Tiếng Phạm (Asamkhya) là chữ thuộc về số mục của
xứ Ấn Độ. Trung Hoa dịch Vô ương số, chỉ cho một
số rất nhiều không thể nào đếm kể cho xiết đượcỂ.
A-tu-la
: Tiếng Phạm (Asura) xem trong Bát bộ.
Ấm.
Giới. Nhập : Ấm tức là năm ấm, là sắc, thọ, tưởng,
hành, thức tham khảo 12 nhơn duyên. Giới là 18 giới,
mà chính là chỉ cho sáu thức sự nhận biết ở tai, mắt,
mũi, lưỡi, thân, ý. Nhận là sáu nhập; mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân, ý.
Bát
bộ : Tục gọi là Thiên long Bát bộ : 1.- Thiên chư thiên,
2.- Long loại Rồng, 3.- Dạ xoa Yaksa loài quỷ, 4.- Càn-thát-bà
Gandharva thần âm nhạc, 5.- A-tu-la Asura thần chiến đấu, 6.-
Ca-lâu-la Garuda chim Đại bàng, 7.- Khẩn-na-la Kimuara thần pháp
nhạc, 8.- Ma-hầu-la-già Mahoraga thần Mãn xà.
Bác-đàm-ma
: Padura hoặc Bác-đầu-ma, là thứ hoa sen đỏ.
Ba-la-mậ
: Tiếng Phạm (Paramitâ) Trung Hoa dịch (đáo bỉ ngạn), là
đến bờ bên kia. Chúng sinh mê ví như người đương
ở bờ song bên này, các đức Phật giác ngộ như người đã
qua đến bờ song bên kia. Tức vượt qua biển sanh tử
đến bờ Niết-bàn vậy.
Ba-la-nại
: Tiếng Phạm (Vâramitâ), là một nước ở về lưu vực song
Hằng.
Ba
ngàn đại thiên thế giới : Trong vũ trụ có rất nhiề4 thế
giớ. Hiệp một ngàn thế giới gọi là tiểu thiên thế
giới, hiệp một ngàn tiểu thiên thế giới, gọi là trung
thiên thế giới, hiệp một ngàn trung thiên gọi là đại thiên.
Một đại thiên thế giới thông thường gọi là Tam thiên
đại thiên thế giới.
Bạch
hào : Một trong 32 tướng tốt của Phật. Giữa chặng
mày của Phật có tướng Bạch hào, dạng như sợi long hay
sợi tơ, mịn màn tươi đẹp xoay vòng theo chìu hữu, khi phóng
ra thời có hào quang sáng suốt
Bảo
cái : Cái, nghĩa là che. Bảo cái là cái treo che trên
đầu chỗ thờ Phật, hoặc chỗ ngồi của các vị Pháp sư,
Đại đức khi giảng Đạo. Dùng các thứ báu mà trang
sức nên gọi là Bảo cái.
Bậc
bất động : Bậc thứ tám trong thập địa. Bậc
này đã đoạn tư hoặc, dùng tâm vô tướng tu hành các hạnh,
không cần phải dụng tâm mà vẫn đi tới, nên gọi là bất
động.
Bốn
đế: Xem mục Tứ đế Pháp luân.
Bốn
tướng : 1.- Sanh : là thời kỳ sanh thành
của các pháp. 2.- Trú : Thời kỳ tồn tại. 3.- Dị :
Thời kỳ biến thiên. 4.- Diệt : Thời kỳ tiêu diệt.
Bốn
tướng này chi phối tất cả sự sanh diệt chuyển biến của
tất cả hiện tượng trong Vũ trụ, cho đến tâm trạng cũng
không ra ngoài bốn tướng ấy.
Các
đại : Đại, thủy, hỏa, phong đất, nước, gió, lửa
là bốn nguyên liệu lớn tổ chức nên thân thể.
Chơn
chánh giải thoát : Nghĩa là chỉ có y vào Phật đạo
mà tu hành, dứt phiền não chứng giải thoát mới gọi là
chơn chánh giải thoát.
Càn-thát-bà
: Tiếng Phạm (Gandharva) là loài Thiên thần thường ưa
hương khí.
Câu-vật-đàu
: (Kumuda) là tên hoa, thuộc loài hoa sen. Có nhiều nhà
giải khác nhau; có nhà bảo sen trắng, có nhà bảo sen hồng,
có nhà bảo sen vàng, có nhà bảo giống hoa sen này có hai thứ;
xanh và đỏ. Lại có nhà bảo là chỉ cho hoa sen búp.
Chơn
trí thứ c: Những bậc có trí thức chơn chánh, biết
thời biết cơ, hay khuyến dẫn người đi vào đường an lành
sáng suốt.
Chuyển
Pháp Luân : Đẩy bánh xe pháp. Pháp của Phật
dạy hay dẹp trừ phiền não của chúng sinh, như bánh xe hay
dằn dẹp cỏ rác, cát sản, nên gọi là Pháp luân. NgườI
nói giáo pháp để chuyển tâm ô nhiễm của chúng sinh thành
tâm thanh tịnh, gọi là (Chuyển Pháp Luân).
Cửa
Đại Tổng Trì : Cửa, có nghĩa vào ra không ngăn ngại.
Bồ-tát thâm nhập vào pháp Đại tổng trì, nên có thể gọi
pháp ấy là cửa Đại tổng trì xem mục Đa-la-ni hay pháp môn
đại tổng trì.
Diêm-phù-đề
: Tiếng Phạm (Jambudvipa). Tức là cõi đất người
ta hiện ở đây. Theo địa lý xưa xứ Ấn Độ, về tầng
thấp người ở, thuộc cõi (dục) có chia làm bốn châu; Nam
thiện bộ châu. Đông thắng thần châu, Tây ngưu hóa
châu, Bắc cu lô châu. Nam thiện bộ; tức là châu Diêm-phù-đề
này. Vì ở phía nam nên gọi là Nam thiện bộ.
Dục
trần : Dục là ngũ dục; tài, sắc, danh, thực, thụy
tức là của cải, sắc, đẹp, danh vọng, ăn uống, ngũ nghỉ.
Chúng sinh bị năm món dục ấy hằng làm nhơ nhớp thân tâm
như bụi nhơ, nên gọi là trần. Trong Luận Trí Độ quyển
thứ 17 nói; Thuyền định là nước thanh tịnh, hay rửa sạch
các dục trần.
Đà-la-ni
: Tiếng Phạm Dhậrani. Trung Hoa dịch : Tổng
trì, tức là chỉ cho công năng giữ gìn các pháp lành khiến
cho không mất, các pháp dữ không sanh, chia làm bốn món : 1.-
Pháp Đà-la-ni, với các pháp Phật dạy nghe giữ không
quên. 2.- Nghĩa Đà-la-ni, với nghĩa của các pháp
giữ gìn không quên. 3.- Chú Đà-la-ni, do sức thuyền định
phát ra lời bí mật, có thần hiệu không lường. 4.-
Nhẫn Đà-la-ni, an trú nơi thật tướng của các pháp.
Trong luận Phật địa quyển thứ năm nói; Đà-la-ni là sức
tăng thượng của niệm huệ tức là sức mạnh của ký ức
và trí huệ hay giữ gìn không lường Phật pháp, khiến không
quên mật.
Đại
Bồ-tát : Tiếng Phạm (Bodhisattava) có hai nghĩa :
1.- Những bậc hằng thường tinh tấn dõng mãnh cầu Đạo
Vô thượng Bồ-đề Phật đạo. 2.- Và thường đem chỗ
giác ngộ của mình mà giáo hóa cho chúng sinh, thế là lợi
mình lợi người, đủ hai nghĩa ấy gọi là Bồ-tát.
Đại Bồ-tát tức là chỉ cho những bậc Bồ-tát chỗ tu hành
đã cao, công hạnh đã lớn.
Đại
chúng : Là một nhóm người đông. Trong những thời
thuyết pháp của Phật, trừ Phật ra còn bao nhiêu bậc Hiền,
Thánh đều gọi là Đại chúng. Chúng tăng theo Phật tu
học cũng gọi Đại chúng.
Đại
Thánh Chúa : Phật là đấng chí tôn, là thánh trong
bậc Thánh nên cũng gọi Phật là Đại Thánh Chúa.
Đại
Chuyển luân vương : Cũng gọi là Đại thắng Kim cang,
tức là vị thần do đức Đại Nhật Như Lai biến hiện ra.
Đại
b i: Lòng từ bi rộng lớn, thương xót cứu vớt
tất cả chúng sinh.
Đãnh
Pháp : Là bậc thứ hai sau noãn pháp, sở dĩ gọi
là (Đãnh) có hai nghĩa : 1.- Đãnh trán người, là sự
sánh ví. Với các bậc căn lành còn xao động tức noãn
pháp và đãnh pháp bậc này là quý hơn, như đỉnh trán của
người cao quý hơn trong thân thể. 2.- Đãnh núi, là lời
ví dụ. Vì bậc này còn ở trong tầng tấn thối, như
người lên đến tột đãnh núi, tuy tột đãnh cũng có thể
trợt xuống được nếu bị mệt mõi. Lại có nghĩa nữa
là tâm quán tướng của bậc này đã thuần thục, đã thấy
rõ pháp Tứ đế một cách chắc chắn rộng rãi như người
đến đãnh núi được trông thấy xa rộng vậy.
Đế
quán : Lóng thần quán sát, đem tâm yên lặng nghe
Phật pháp gọi là đế thính; dùng trí huệ chuyên nhất quán
sát, trực nhận các lý huyền vi của Vũ trụ gọi là đế
quán. Như long thần định trí quán hình tướng Phật
hoặc cảnh Tịnh độ cũng gọi là đế quán.
Điều
ngự : Điều là điều phục, điều khiển, ngự là đón
ngăn, dằn dẹp; chúng sinh mê muội điên đảo ví như voi điên
ngựa dữ. Phật ví như ông nài hay người kỵ mã giỏi,
có thể điều khiển mà khiến voi ngựa kia trở nên hiền
hòa, không còn hung hăng, ngông cuồng nữa. Lại, Phật
khi tu nhơn đã điều hòa các điều lành, ngăn đón các điều
dữ, nên khi thành quả Phật được danh hiệu là Điều ngự.
Đạo
sư : Người dắt chúng sinh đi vào chánh đạo. Tức
là tên chung của Phật và Bồ-tát.
Gió
giải thoát : Do chữ giải thoát phong dịch ra. Phiền
não điên đão của chúng sinh trong thế gian như lửa nóng,
đạo giải thoát của Phật như gió mát. Gió mát giải
thoát thổi lên thì bao nhiêu lửa nóng phiền não đều nguội
tắt.
Giới,
Định, Huệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến : Năm món
này gọi là ngũ phận Pháp thân. 1.- Thân, khẩu, ý xa lìa tất
cả tội lỗi, gọi là Giới. 2.- Chơn tâm đứng lặng,
lìa tất cả vọng niệm, gọi là Định. 3.- Chơn trí
sáng suốt chiếu tỏ các pháp, gọi là Huệ. 4.- Thân
tâm giải thoát, không bị triền phược, gọi là giải thoát.
5.- Biết mình thật giải thoát gọi là Giải thoát tri kiến.
Người tu hành nhờ giới, định, huệ làm nhơn mà chứng được
thể Giải thoát. Giải thoát tri kiến của Pháp thân là
quả, nên gọi là ngũ phận Pháp thân.
Hằng
hà sa : Các sông Hằng, ví dụ chỉ cho số rất nhiều
không thể kể đếm được.
Hoa
nghiêm hãi không : Giáo lý Phật nói về thời Hoa nghiêm,
rộng lớn như biển, và trùng trùng điệp điệp như sóng
biển chập chồng với nhau không ngăn ngại, tức là cảnh
giới sự sự vô ngại pháp giới. Duyên khởi vô lượng
mà bản tánh vẫn không tịch, nên gọi là hãi không.
Hữu
lậu : lậu là lọt, hoặc là tiết lậu. Chúng
sinh mê lầm để các phiền não lọt vào tự tâm, như cái
nhà bị giột thường giọt rơi xuống những nhơ bẩn gọi
là lậu. Nói rộng, các pháp sanh diệt biến hóa trong
Vũ trụ cũng gọi là pháp hữu lậu.
Hữu
vi : Các pháp có tạo tát sanh diệt, tức là chỉ tất
cả hiện tượng biến thiên trong Vũ trụ.
Y
vương : Phật hay tùy thuận căn cơ chúng sinh thuyết pháp
hóa độ khiến đều được xa lìa khổ não, như ông thầy
thuốc hay chẩn mach cho thuốc các bệnh nhân, nên gọi Phật
là Y vương; Chúa trong nghề thuốc.
Kim
luân vương : Vị vua có oai đức lớn. Trong Kinh nói;
Nếu là vị Vua sanh trong going Sát-đế-lợi Giòng vua khi làm
lễ thọ vị... Ở phương Đông thoắt hiện lên vừng
báu chói sáng đẹp đẽ bằng chất vàng chiếu đến chỗ
Vua thời Vị vua ấy chắc là vị Kim luân vương. Chất
đồng thì Đồng luân vương cho đến chat thiết thì là Thiết
luân vương. Kim luân vương đủ có oai đức thống trị
của tứ châu thiên hạ, Ngân luân vương chỉ trị ba châu,
Đồng luân vương trị hai châu, Thiết luân vương trị một
châu.
Kiết
lậu : Các phiền não kết dệt trong tự tâm, nên phiền
não cũng gọi là Kiết lậu.
Không
ngã : Do chữ (vô ngã) dịch ra. Thân thể chúng ta
chỉ do nhơn duyên giã hợp không có thường nhất chủ tể.
Bậc tu hành quán sát thân mình thân người rốt ráo không
thật có, chứng được chon không vô ngã. Trong Kinh Kim
Cang nói; Người thông suốt được pháp vô ngã, Như Lai
gọi là Chơn Bồ-tát.
Kỳ-xà-quật
: Tiếng Phạm (Grdhrakuta), tức là núi Linh thứu ở
phía đông bắc thành Vương xá nước Ma-kiệt-đà.
Lộc
Uyển : Tức là vườn Lộc-dã Horgadâva ở nước Ba-la-nại,
Trung Thiên trúc. Khi Phật mới thành đạo đến đây nói
pháp Tứ đế độ ông Kiều-trần-như và bốn thầy Tỳ-kheo.
Lục
thông : Sáu món thần thông : 1.- Thiên nhãn, Phật có con
mắt thấy xa không ngăn ngại như mắt người cõi sắc giới.
2.- Thiên nhĩ, Phật có tai nghe xa không ngăn ngại, như tai người
cõi sắc giới. 3.- Tri tha tâm, Phật biết rõ tâm niệm
của tất cả chúng sinh. 4.- Thân như ý hay là Thần túc
thông, Phật biến hiện các cảnh giới được tự tại.
5.- Túc mạng, Phật biết rõ những việc kiếp của mình, và
của tất cả chúng sinh. 6.- Lậu tận, Phật đã diệt
trừ hết các lậu nghiệp.
Ma
ha Bát nhã : Là những đạo lý thuộc về các bộ Kinh Bát
nhã. Các Đạo lý Phật dạy về thời này chuyên chỉ
cho chúng sinh dùng trí huệ rộng lớn, quán sát lý chơn không,
cao hơn thời Phương đẳng.
Một
trăm tám bệnh : Dùng mười sử : tham, sân, si, mạn, nghi, thân
kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ và tà kiến,
phối hiệp với tứ đế trong ba cõi thành 88. Cõi Dục
lại thêm tham, sân, si, mạn, về tư hoặc; cõi sắc và vô
sắc lại thêm tham, sân, si, mạn thành 98, lại thêm thập triền
vào nữa thành 108. Gọi là một trăm tám bệnh. -
Thập triền : 1.- Phẫn nhuế tánh giận dữ. 2.- Phú
tánh che dấu. 3.- Si mê. 4.- Hôn trầm ngũ quan
mờ ám. 5.- Hý du tánh dởn cợt. 6.- Trạo cữ ba
nghiệp thân, khẩu, ý tháo động. 7.- Vô tàm không tự
thẹn. - Vô quý không biết thẹn vớI người. 9.-
Xan bõn sẽn. 10.- Tật tánh ghen ghét.
Mười
hai nhơn duyên : Nhơn là nguyên nhơn, duyên là nhưng cái phụ
thuộc giúp cho nguyên nhơn được phát triển và được kết
quả. Mười hai nhơn duyên là mười hai nguyên động lực
làm cho chúng sinh mê lầm, gây nhơn chịu quả, chuốt lấy
sự sống chết khổ não.
1.-
Vô minh mê lầm không nhận rõ chơn lý. 2.- Hành các
hành tướng lưu chuyển biến thiên trong tâm trạng. 3.-
Thức nhận thức phân biệt. 4.- Danh sắc danh, các
cảm giác tư tưởng, nhận thức, Sắc, các hình sắc.
5.- Lục nhập mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. 6.-
Xúc đối cảnh cảm xúc. 7.- Thọ lãnh nạp.
8.- Ái ưa muốn. 9.- Thủ đắm trước tham cầu.
10.- Hữu vì lòng đắm trước tham cầu mà gây ra nhơn
quả đời sau. 11.- Sanh : thọ sanh hay chuyển
sanh. 12.- Lão tử già, chết, đã có sanh phải chịu
già chết.
Mười
hai bộ Kinh : 1.- Tu-đa-la sutra : Trung Hoa dịch là Khế kinh,
Kinh điển của Phật dạy rất hiệp với chơn lý và căn cơ
của chúng sinh. Cũng gọi là Trường hàng, vì toàn bằng
một thể văn xuôi. 2.- Kỳ dạ Ceya : Trung Hoa dịch là
Trùng tụng ; thuật lại ý nghãi của văn trường hàng
trên. Dùng năm chữ, bảy chữ hoặc tám chữ làm một
câu. 3.- Thọ ký : là những kinh Phật thọ ký chứng
minh cho các vị Bồ-tát đệ tử sẽ được thành Phật sau
này. 4.- Dà-đà Gâthâ : Trung Hoa dịch là Phúng tụng hay
cô khỉ ; không thuật lại văn trường hàng như trên,
chỉ làm ngay từng bài kệ mà thôi. Lấy bốn câu làm
một bài kệ. 5.- Ưu-đà-na Udâna : Trung Hoa dịch
là Vô vấn tự thuyết, Phật dùng trí huệ xem xét căn cơ
của chúng sinh rồi tự nói Pháp ra, không đợi phải thỉnh
cầu mới nói. 6.- Ni-đà-na Nidâna : Trung Hoa dịch là nhơn
duyên ; Kinh văn nói về nhơn duyên gặp gỡ Phật pháp, và
lý căn bổn duyên khỉ của Vũ trụ. 7.- A-ba-đà-na Avandana
: Trung Hoa dịch là thí dụ ; Pháp Phật rất
mầu nhiệm phải dùng lới thí dụ cho người căn trí thấp
dể hiểu. 8.- Y-đế-mục-đà-già Ytvetaka : Trung Hoa dịch
là Bổn sự ; kinh Phật nói về tu nhơn đời quá khứ
của Phật và các vị Bồ-tát. 9.- Xà-đà-dà Jakata :
Trung Hoa dịch là Bổn sanh ; Kinh nói về nhơn duyên thọ
sanh đời quá khứ của Phật và các vị Bồ-tát đệ tủ.
10.- Tỳ-Phật-lượt Vaipulia : Trung Hoa dịch là Phương
quãng ; Kinh điển thuộc về Đại thừa Phương đẳng,
lý nghĩa rất rộng lớn và thâm thúy. 11.- A-tỳ-đạt-ma
Adbhuta-dharma : Trung Hoa dịch là Vị Tằng Hữu; Kinh nói về
thần lực của Phật thị hiện những việc bất tư nghị
trong lúc nói pháp, những cảnh giới mà trí người phàm không
thể hiểu được. 12.- Ưu-bà-đề-xá Upadéxa : Trung
Hoa dịch là Luận nghị ; Lối văn có tánh cách vấn đáp để
biện luận rõ các lẽ chánh tà.
Na-do-tha
: Tiếng Phạm (Nay uta), về số mục. Đối với ta
là số ức. Số ức của tiếng Na-do-tha có ba bậc; 10
vạn, 100 vạn, 1,000 vạn đều gọi là Na-do-tha.
Niết-bàn
: Tiếng Phạm (Nirvâna). Trung Hoa dịch là Diệt độ hoặc
Viên tịch. Diệt độ là diệt hết phiền não qua khỏi
biển sanh tử. Viên tịch; Trong Tâm Kinh Hiền thủ
lược sớ nói; Niết-bàn đây nói là Viên tịch, Vô lượng
công đức đều đã viên mãn Viên bao nhiêu chướng hoặc đều
đã diệt trừ tịch.
Noãn
pháp : Lời ví dụ để chỉ một tầng bậc trong sự
tu hành. Người tu hành muốn dùng lửa trí huệ để đốt
các phiền não, trong khi tu tuy chưa được lửa trí huệ vô
lậu phát hiện, nhưng trước khi lửa trí sanh ra, đã có tướng
lửa phát bảy, như người cưa cây lấy lửa, lữa tuy chưa
ra nhưng đã có hơi nóng.
Nhẫn
pháp : Là quả thứ bas au noãn pháp. Nhẫn có hai nghĩa;
Ấn khả và quyết định. Nghĩa là nói bậc này nhận
thật lý Tứ đế được rốt ráo quyết không sa đọa nữa.
Nhị
địa : Bậc thứ hai trong thập địa. Bậc này thành tựu
được pháp trì giớI Ba-la-mật, dứt tư hoặc, trừ diệt
tội lỗi khiến thân tâm thanh tịnh nên cũng gọi là Ly-cấu
địa.
Như
Lai; Như là chơn như tức là chơn lý bất sanh bất diệt.
Lại, là lại, đến. Như Lai; Nương nơi thể chơn như,
rồi do nhơn đến quả mà thành bậc Chánh giác Phật.
Tất cả các đức Phật đều gọi là Như Lai.
Nhục
kế : Trên đảnh của Phật có khối thịt cao lên gọi là
Nhục kế. Khối thịt ấy kẻ Phàm phu hay đến bậc Thanh
văn cũng không thể thấy được, nên cũng gọi là Vô kiến
đảnh tướng, ấy là một trong ba mươi hai tướng tốt của
Phật.
Nhất
tướng Vô tướng : Nhất là đối với hai, ba mà nói.
Hai, ba là những cái sai khác, một là nghĩa không sai khác.
Thật tướng của vũ trụ, là “một” chứ không hai.
Nhưng sở dĩ nói “một” cũng chỉ là mượn mà nói cho dễ
rõ, chứ thật “một” ấy cũng tuyệt đối, cũng không,
nên gọi là nhất tướng vô tướng.
Phạm
âm : Tiếng cõi trời Phạm thiên. Người cõi này đã
ly các món dâm dục, tâm tình thanh tịnh, thường ra tiếng
tăm mầu nhiệm và oai hùng, tiếng của Phật cũng như vậy,
cho nên trong 32 tướng tốt có tướng Phạm âm. Kinh Pháp
Hoa Văn cú có nói; “phước báo của Phật được tiếng tăm
mầu nhiệm thanh tịnh gọi là Phạm âm”. Kinh Hoa Nghiêm
nói : “Diễn ra tiếng Phạm thanh tịnh mầu nhiệm, tỏ bày
chánh pháp cao xa vô lượng, người nghe vui mừng đặng Đạo
thanh tịnh vi diệu”.
Pháp
môn : Giáo pháp của Phật nói ra là pháp tắc khuôn mẫu
cho thế gian. Các bậc Hiền thánh nương vào đó mà được
nhập đạo, gọi là Pháp môn. Kinh Pháp Hoa phẩm phương
tiện nói “Dùng chữ Pháp môn tỏ bày Phật đạo”.
Pháp
môn Giải thoát; Giải thoát là thể Niết-bàn. Người
tu hành dùng trí vô lậu dứt phiền não vào cửa Niết-bàn
nên gọi là cửa Giải thoát hoặc Pháp môn giải thoát.
Có ba : 1.- Không tức quán rõ các pháp do nhơn duyên sanh,
không ngã, ngã sở. 2.- Vô tướng, tức quán sát thể
Niết-bàn xa lìa các tướng sắc, thanh, hương, vị, xúc nam,
nữ, sanh diệt. 3.- Vô nguyện, tức quán sát đời
là khổ, là vô thường, và các pháp nhơn duyên sanh đều giả
dối không thật có, nên với các pháp ấy không niệm mong
cầu, cho đến quán sát thể tự tâm bản lai thanh tịnh vô
tướng, nên với Đạo quả tu chứng cũng không lòng đắm
trước.
Pháp
vân : Xem mục Thập địa.
Pháp
Thân Phật : Pháp thân tức bản thể chơn lý, hoặc gọi là
pháp tánh hay chơn như. Bản thể ấy sáng suốt mà có
tri giác nên gọi là Pháp thân Phật.
Pháp
thân Đại sĩ : Bậc Bồ-tát đã chứng lên sơ địa, và từ
sơ địa sắp lên cứ trãi quả một bậc dứt một phần vô
minh, chứng một phần Pháp tánh, đều gọi là Pháp thân Đại
sĩ. Nghĩa là bậc Bồ-tát đã chứng được Pháp thân.
Pháp
Vương tử : Ở nơi các pháp, Phật được tự tại gọi
là Pháp vương. Vị Bồ-tát sanh trong nhà Pháp vương,
nối dòng Phật pháp gọi là Pháp vương tử.
Pháp
tánh : Thể tánh của các Pháp; Tức bản thể chơn như, cũng
tức là thật tướng của Vũ trụ. Luận duy thức thuật
ký nói : “Chơn lý của các pháp gọi là Pháp tánh”.
Pháp
tướng : Tướng trạng sai khác của các pháp trong Vũ trụ.
Sách Đại thừa nghĩa chương quyển hai nói : “Tất cả
pháp hữu vi vô vi trong thế gian đếu gọi là pháp tướng”.
Phát
tâ Đại thừa : Tức là phát Bồ-đề tâm rộng lớn
tu mình, lợi người cầu đạt đến cảnh giới của chư Phật.
Phân
Đà Lợi : Ấn Độ hoa sen đủ có bốn giống, xanh, vàng,
trắng, đỏ. Lại thùy theo khi búp khi nở, khi tàn mà
có tên khác nhau. Phân-đà-lợi là hoa sen trắng đương
khi nở.
Phật
nhãn : Con mắt soi tỏ thật tướng của các pháp, tức
là thấu triệt chơn lý của Vũ trụ.
Phương
đẵng : Phương là phương hướng, có ý chỉ các phương
hướng thuộc cả bầu trời. Đẳng là bằng bậc, tức
là lời sánh ví. Nghĩa là sau khi Phật dạy các pháp tiểu
thừa, người nghe tu hành đã có chỗ chứng ngộ. Phật
liền dạy pháp Đại thừa Phương đẳng. Giáo pháp Phật
dạy trong thời này nghĩa lý cao xa rộng lớn như bầu trời.
Sáu
pháp Ba-la-mật : 1.- Bố thí, 2.- Trì giới, 3.-
Nhẫn nhục, 4.- Tinh tấn, 5.- Thuyền định,
6.- Trí huệ. Bồ-tát nhờ sáu pháp này đưa đến
bờ giải thoát, gọi là Ba-la-mật, cũng gọi là lục độ.
Sáu
món rung động : Có ba lối thuộc về sáu món rung động.
a.- Sáu thời rung động, như trong Kinh nói : “Khi Phật
vào thai mẹ, khi ra thai, khi xuất gia, khi thành đạo, khi thuyết
pháp, khi Niết-bàn. Trong sáu khi ấy toàn cõi đất đều
rúng động”. b.- Sáu phương rúng động ; Kinh Đại
Phẩm Bát Nhã quyển một nói; ỀBấy giờ đúc Thế Tôn ngồi
tòa Sư tử, nhập định Sư tử du hý, dùng sức thần thông
cảm động đến ba ngàn đại thiên cõi nước, sáu phương
rúng động ; Phương đông nổi, phương tây lặn, phương
tây nỗi, phương đông lặn, cho đến chặng giữa nổi hai
bên lặn, đất đều mềm dịu, chúng sinh hòa vui. c.-
Sáu tướng rúng động : 1.- Động chuyển động,
2.- Khỉ chỗ thấp lần lần nổi cao, 3.- Dũng nơi
bằng phẳng tự nhiên vụt nổi lên, 4.- Chấn tiếng dậy
rầm rầm, 5.- Hẩu Tiếng thét gầm oai dũng, 6.- Kích
tiếng cạch kẹt như hai viên đá chạm vào nhau. Trong
sáu món này lại có ba sức chuyển động khác nhau lại thành
mười tám. Như sự rúng chuyển chỉ một phương, gọi
là “động”. cả bốn phương thì gọi là biến động; cả
tám phương thì gọi là đẳng biến động, khỉ, dụng, hẩu,
chiếu theo đây sẽ rõ.
Sáu
thú : Thú nghĩa là tới, đến. Sáu thú là sáu chỗ đi
đến của chúng sinh : 1.- Người, 2.- Trời,
3.- A-tu-la, 4.- Địa ngục, 5.- Ngạ
quỷ, 6.- Súc sanh.
Sơ
địa : Lối tu hành của Đại thừa có chia làm 52 bậc
Sơ địa là bậc đầu trong thập địa. Đối về 52 bậc
kia thì đứng về bậc 41. Bậc Bồ-tát sau khi đã tu trọn
kiếp A-tăng-kỳ thứ nhất, pháp kiến hoặc, chứng lý nhị
không nhơn không, pháp không thành tựu pháp bố thí Ba-la-mật
lòng rất vui mừng, nên cũng gọi là hoan hỷ địa. Bậc
này đã có thể hiện thân thành Phật lợI lạc chúng sinh.
Tam
địa : Bậc thứ ba trong thập địa. Bậc này thành tựu
được pháp nhẫn nhục Ba-la-mật, dứt tư hoặc, trí huệ
mở tỏ sáng lạng nên cũng gọi là Phát quang địa.
Tam
minh : Trí huệ chứng thật tỏ rõ gọi là minh. 1.- Túc
mạng minh : Biết rõ những kiếp trước của mình và người,
2.- Thiên nhãn minh : Biết rõ đời vị lai của mình
và người, 3.- Lậu tận minh : Biết rõ mình đã
dứt sạch các mê lầm phiền não.
Tám
món rung : Xem sáu món rúng động.
Tà
kiến : Kiến giải không chơn chánh xác thực, như không tin
nhơn quả tội phước v.v...
Bích
chi Phật đạo : Cũng gọi là Độc giác. Người ra đời
có Phật nghe pháp 12 nhơn duyên, y theo mà tu hành chứng quả
gọi là Duyên giác. Người ra đời không gặp Phật, ưa
ở nơi vắng lặng chỉ tự mình quán sát lý hóa của vũ trụ
mà tu hành dứt phiền não, thoát khỏi sanh tử, gọi là Độc
giác hay Bích chi.
Tỳ-kheo
: Tiếng Phạm (Bhiksu) Các thầy xuất gia thọ giới cụ
túc thọ đủ 250 giới của Phật. Đàn ông gọi là Tỳ-kheo,
đàn bà gọi là Tỳ-kheo noi thọ đủ 350 giới Đại Tỳ-kheo
là chỉ cho người Tỳ-kheo có đức hạnh lớn.
Tu-đà-hoàn
: Tiếng Phạm (Srota apanna). Trung Hoa dịch là Dự lưu,
hay nhập lưu. Tức là quả đầu tiên trên đường tu
chứng. Quả Dự lưu, sau khi đến bậc Thế đệ nhất
pháp, diệt bỏ phiền não, trí huệ vô lậu phát sanh, trừ
hẳn kiến hoặc trong ba cõi, dự vào dòng pháp thánh đáo,
tức là nghĩa Dự lưu.
Tư-đà-hàm
: Tiếng Phạm (Skrdagauri). Trung Hoa dịch là Nhất lai; là
quả thứ hai sau quả Dự lưu. Bậc này đối với chin
phẩm tư hoặc thuộc về Dục giới đã đoạn hết sáu phẫm
trước, ba phâm sau hãy còn nên phải đầu thai vào cõi Dục
một lần nữa, mà tu hành đoạn cho hết.
Tứ
đế pháp luân : Tức là khổ, tập, diệt, đạo. 1.- Khổ
: hết thảy cảnh khổ ở thế gian, Phật cực tả hết
thảy cảnh thong khổ ấy cho thế gian biết mà sanh lòng nhàm
chán để cầu thoát ly; 2.- Tập : nguyên nhơn hết
thảy cảnh khổ ở đời đều do tham, sân, si, phiền não của
quá khứ mà sanh ra; 3.- Diệt : là tịch diệt Niết-bàn
muốn hết thong khổ phải trừ diệt các nguyên nhơn sanh ra
thong khổ, diệt các nguyên nhân ấy rồi, tức chứng được
cảnh giới an lành tự tại (Tịch diệt Niết-bàn). 4.-
Đạo : muốn hết khổ và được giải thoát phải tu
theo Đạo bát chánh: 1.- Kiến giải chơn chánh ;
2.- Suy nghĩ điều chơn chánh; 3.- Nói lời ngay thật
chơn chánh; 4.- Giữ nghề nghiệp làm ăn chơn chánh;
5. Giữ thân, khẩy, ý thanh tịnh, sống đúng với Đạo
lý, với chánh pháp; 6.- Siêng năng tu tập đạo mầu
giải thoát. 7.- Xa lìa các tà niệm thường thường
nhớ niệm chánh đạo; 8.- Tu theo cac pháp Thuyền
chơn chánh của Phật pháp.
Tứ
vô úy : Bốn món vô úy : 1.- Nhất thế trí
: Phật có vô lượng trí huệ rõ, thấy rõ tất cả các
pháp không còn chướng ngại ; 2.- Lậu tận : Phật
đã diệt sạch hết các phiền não, hoàn toàn thanh tịnh ;
3.- Thuyết chương đạo : với các nhơn duyên có thể
ngăn cản sự tu đạo, Phật đều biết rõ và hay nói ra cho
kẻ tu hành biết mà xa lánh ; 4.- Thuyết tận khổ
đạo : với các đạo pháp tu hành để hết khổ.
Phật đều biết rõ và hay nói ra cho chúng sinh y theo đó mà
tu hành. Các đức Phật có đủ bốn món ấy, nên đối
với chúng sinh nói pháp không chút rụt rè e sợ nên gọi là
“Tứ vô úy”.
Tứ
chúng : Bốn chúng : 1.- Phát khởi chúng : như hội
Pháp hoa nhơn ngài Xá-lợi-phất ba lần thỉnh cầu làm duyên
phát khởi Phật nói Kinh ấy. 2._ Đương cơ chúng
: chúng đương cơ như các bậc Thanh văn chính nghe Kinh ấy
mà được chứng ngộ. 3.- Ảnh hưởng chúng :
như Ngài Văn Thù và Ngài Quán Âm từ cõi Phật khác đến
để giúp Pháp hóa của Phật trang nghiêm pháp tọa. 4.-
Kết duyên chúng; là những chúng sanh bạc phước đời này
tuy không có ích chứng ngộ, nhưng nhờ được thấy Phật
nghe pháp, làm nhơn duyên đắc đạo đời vị lai. Lại
có bốn chúng xuất gia là : Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Sa di,
Sa si ni. Lại có bốn chúng vừa xuất gia tại gia là :
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di v.v...
Trưởng
giả : Là chỉ cho người vừa cải vừa đức hạnh đầy đủ.
Kinh Pháp Hoa huyền tán quyển mười nói : “Tâm tánh
ngay thẳng, lời lẽ chân thật, hành vi thuần cẩn, tuổi tác
giả cả, của cải giàu có, gọi là trưởng giả”
Thanh
văn : Các bậc tu theo pháp Tiểu thừa, tiêu cực tự lợi mà
không có lợi tha.
Thánh
Vô trước : Phật là bậc Thánh trong các bậc Thánh. Ngài
đã dứt hết lòng tham đắm chấp trước, có với không đều
không an trú, nên gọi là Thánh Vô trước.
Thập
ác : Mười điều dữ : 1.- Sát sanh, 2.-
Trộm cắp, 3.- Tà dâm, 4.- Nói dối, 5.- Nói
hai lưỡi, 6.- Lời thô ác, 7.- Lời thêu dệt, 8.-
Tham, 9.- Sân, 10.- Si. Mười điều này đều
bởi trái lý mà sanh ra gọi là ác. Trái lại, thuận theo
lý mà khởi tâm đối cảnh, không phạm mười điều trên
gọi là thiện.
Thập
thiện : Mười điều lành. Xem mục Thập ác.
Thập
địa : Bậc thứ mười về thập địa. Bậc này thành
tưu pháp trí huệ Ba-la-mật, đầy đủ vô lượng công đức,
rưới nước cam lồ nhuần khắp chúng sinh như đám mây lớn
ở hư không, hay rưới xuống những hạt nước thanh lương,
nên bậc này cũng gọi là Pháp vân địa.
Thập
trú Bồ-tát : Bậc Bồ-tát đã chứng đến thập trú
: 1- Phát tâm trú, 2.- Tự tại trú, 3.- Tu hành
trú, 4.- Sanh quý trú, 5.- Phương tiện trú, 6.-
Chánh tâm trú, 7.- Bất thoái trú, 8.- Đồng chơn
trú, 9.- Pháp vương tử trú, 10.- Quán đảnh
trú. Mười bậc này tâm đã an trú nơi lý nên gọi là
Trú.
Thập
lực : Mười trí lực của Phật: 1.- Phật biết rõ những
điêu hợp lý và trái lý, 2.- Phật biết rõ chúng sinh
có không lường nghiệp, 3.- Biết rõ các pháp Thuyên
định tam muội, 4.- Biết rõ tầng bậc cao thấp
các căn tánh của chúng sinh, 5.- Biết rõ những ưa
muốn sai khác của chúng sinh, 6.- Biết rõ tất cả
những cảnh giới sai khác của chúng sinh trong thế gian,
7.- Biết rõ chỗ đi đến cũa tất cả phàm phu hiền
thánh thế gian và xuất thế gian, 8.- Biết rõ tánh
danh, khổ, vui, thọ, yểu của tất cả chúng sinh, 9.-
Biết rõ sự sống chết qua lại các kiếp trước của tất
cả chúng sinh và vô lậu Niết-bàn của các Hiền thánh,
10.- Tự biết mình đã dứt hết nghiệp hoặc tập khí,
không còn sanh tử triền phược nữa.
Thật
tướng : Tướng chơn thật không giả dối, tức là chỉ cho
bản thể vạn hữu trong Vũ trụ. Bản thể ấy có khi
gọi là “pháp tánh”, “chơn như” hay thật tướng.
Danh từ tuy khác mà thể là một.
Thậm
thâm bất tư nghì : Pháp Phật rất sâu xa mầu nhiệm, không
thể dùng lời nói phô, trí tưởng tượng mà phân biệt giảng
nói được.
Thế
Tôn; Hiệu của Phật. Trong kinh Tịnh Ảnh Sớ nói : “Phật
đủ các đức, thế gian ai cũng đều tôn kính nên gọi là
Thế Tôn”.
Thế
hùng : Cũng là một danh hiệu của Phật.
Thế
đệ nhất : Bậc thứ tư sau nhẫn pháp. Thế, là thế
gian. Nghĩa là người tu hành đến bậc này tuy chưa chứng
được Thánh đạo, nhưng đối vớI hữu lậu thế gian, bậc
này là cao nhất, được tôn trọng nhất.
Thủ
Lăng Nghiêm Tam muội : Tiếng Phạm (Suram-gama-samâdhi).
Trung Hoa dịch là “Nhất thế sự cứu kính kiên cố”.
Tức định (Thủ Lăng Nghiêm). Phật được định này
tất cả công đức đều được kiên có viên mãn, các ma không
thể phá hoại.
Thuyền
định : Thuyền, tiếng Phạm (Dhyâna). Trung Hoa dịch là
“Tư duy tu” hay Tịnh lự. Tư duy tu; người tu hành lấy
một chơn lý làm đối tượng rồi chuyên tâm suy nghĩ xét
tìm kỳ cho phát minh được chơn lý ấy. Tịnh lự; tất
cả niệm lự được thanh tịnh, hay làm cho thanh tịnh các
niệm lự, ở trong thể thanh tịnh ấy để xét tìm chơn lỳ,
dứt trừ nghiệp hoặc mê lầm. Định ; Tiếng Phạm (Sacuâdhi).
Tức là tâm chuyên chú vào một cảnh, xa lìa bao nhiêu vọng
tưởng tán loạn. Thuyền định có nhiều tầng bậc cao
thấp khác nhau, như; Thuyền định của ngoại đạo, thuyên
định của Phật pháp, thuyền định của các bậc Thanh văn,
La-hán, Bồ-tát và Phật v.v...
Thuyền
tịch : Thuyền là thuyền định, tịch là vắng lặng.
Kinh Duy ma nói : “Một lòng vắng lặng nhiếp các vọng tưởng.
Kinh Bất động nói : Tâm ấy Thuyền tịch, thường an trú
trong cảnh tam muội chánh định”.
Thọ
trì : Thọ : lãnh thọ; Trì : ghi nhớ gìn giữ. Kinh
Thắng Mạng Bão Khốt quyển thượng nói : đầu tiên lãnh
thọ ở tâm gọi là “Thọ”, rồi sau nhớ giữ không mất
gọi là “Trì”.
Tràng
phan : Các thứ phan phướng treo ở Điện chùa để trang
nghiêm.
Triền
phược : Ràng buộc. Bị các nghiệp chướng phiền
não rà buộc được tự tại giải thoát.
Tám
mươi món tốt : Phất có 32 tướng tốt đẹp, ngoài tướng
đẹp ấy lại có những tướng tốt khác nhưng vi tế và kín
đáo hơn, và cùng khắp thân thể làm cho người trở nên lộng
lẫy sáng suốt mầu nhiệm, đại khái có 80 món, gọi là tám
mươi món tốt.
Ưu-bà-tắc
: Trung Hoa dịch là Cận sự nam. Cận sự nghĩa là thường
thân cận cúng dường ủng hộ các bậc xuất gia tu hành, tức
là chỉ những người tại gia cư sĩ.
Ưu-bà-đi
: Trung Hoa dịch là Cận sự nữ. Tức là nữ cư
sĩ xem mục Ưu-bà-tắc.
Ưu-bác-la
: Tiếng Phạm (Utpala). Thứ hoa sen xanh ở Ấn
Độ.
Vô
lậu : Không còn rơi lọt, tức là nói các bậc Thanh văn hay
Bồ-tát tu hành đã dứt hết phiền não, tự tâm thanh tịnh
giải thoát, các nghiệp chướng không còn rơi lọt vào nữa,
nên gọi là vô lậu.
Vô
lượng nghĩa tam muội : Như trong Kinh Phật dạy; Vô lượng
nghĩa đều do nơi một “Thật tướng” mà sanh ra. Phật
đem tâm yên lặng tam muội định nhập trong thể thật tướng
ấy gọi là Vô lượng nghĩa tam muội.
Vô
sanh pháp nhẫn : Vô sanh tức chơn lý không sanh không diệt,
Nhẫn, có nghĩa là tin chịu giữ gìn. Là nói dùng trú
vô lậu an trú trong thể chơn lý bất sanh bất diệt, tâm không
lay động. Trong Đại Trí Độ luận quyển 50 nói : “Đối
với thật tướng vô sanh diệt của cácd pháp, tin chịu thông
suốt không ngăn ngại, không thối lui, gọi là Vô sanh nhẫn”.
Vô
tướng : Thật tướng của vũ trụ không hình không sắc, không
có tướng trạng nên gọi là vô tướng, nhưng không phải
không. Trong Kinh Niết-bàn quyển 40 có nói; “Cái tướng
vô tướng gọi là thật tướng”.
Vô
thượng chánh đẳng chánh giác : Chỗ giác ngộ của Phật
không còn ai hơn nữa, gọi là Vô thượng ; xa lìa tà
vạy gọi là chánh, ngộ được chơn lý nên gọi là giác.
Vô
thượng đại thừa : Tức chỉ cho giáo pháp Đại thừa
này không có pháp nào hơn nữa nên gọ5 là vô thượng.
Vô
thượng Bồ-đề : Tức vô thượng chánh đẳng chánh
giác.
Vô
vi : là thi vi tạo tác, Vô vi là cái không thi vi tạo tác.
Lại không bị bốn tướng sanh, trụ, dị, diệt cai quản,
tức là bản thể chơn lý.
Vương
xá : Tiếng Phạm (Râjagrha). Là một thành lớn ở nước
Ma-kiệt-đà Magadha ở trung Ấn Độ.
Xe
pháp bất thoái : Phật và Bồ-tát thuyết pháp, gọi là pháp
luân xe pháp. Các bậc Bồ-tát nghe pháp Phật dạy đạo
niệm càng thêm tăng tấn gọi là bất thối không lui.
Lại các bậc Bồ-tát đã chứng được pháp “bất thoái”
rồi, đem pháp ấy dạy cho chúng sinh khiến đặng bất thối
nên gọi là chuyển xe pháp “bất thoái”.