(Thắp
đèn, đốt hương và thỉnh chuông xong, toàn-thể đứng ngay
ngắn, chắp tay ngực mật niệm):
Tịnh
Pháp-Giới Chân-Ngôn:
Úm
lam sa-ha ( 3 lần)
Tịnh
Tam-Nghiệp Chân-Ngôn:
Úm
sa phạ bà phạ, truật đà, sa phạ, đạt ma sa phạ, bà phạ,
truật độ hám (3 lần)
(Vị
chủ lễ thắp 3 cây hương, quỳ thẳng, cầm hương ngang trán,
niệm
bài dâng hương)
Nguyện
đem lòng thành-kính,
Gửi
theo đám mây hương;
Phảng-phất
khắp mười phương,
Cúng-dàng
ngôi Tam-bảo.
Thề
trọn đời giữ đạo,
Theo
tự-tính làm lành;
Cùng
pháp-giới chúng-sinh,
Cầu
Phật-từ gia-hộ:
Tâm
Bồ-đề kiên-cố,
Xa
bể khổ, nguồn mê,
Chóng
quay về bờ Giác.
(xá
1 xá đọc tiếp bài kỳ-nguyện):
Đệ-tử
chúng con nguyện ngôi Tam-bảo thường trụ trong mười phương,
đức Bản-Sư Thích-Ca Mưu-Ni Phật, đức Tiếp-Dẫn Đạo-Sư
A-Di-Đà Phật, cùng hết thảy Thánh-Hiền, từ-bi gia-hộ cho
đệ-tử chúng con: tâm Bồ-đề bền chắc, tự-giác, giác-tha,
giác-hành viên mãn, cùng chúng-sinh trong pháp-giới, tội-chướng
tiêu trừ, căn lành tăng-trưởng, một thời đồng-chứng Vô-thượng
chính-đẳng chính-giác.
(Xá
1 xá, đứng dậy, cắm hương lên lư. Vị chủ lễ chắp tay
đứng thẳng
và
đọc bài tán Phật):
Đấng
Pháp-Vương vô-thượng,
Ba
cõi chẳng ai bằng.
Thầy
dạy khắp trời, người,
Cha
lành chung bốn loại.
Quy-y
trọn một niệm,
Dứt
sạch nghiệp ba kỳ.
Xưng-dương
cùng tán-thán,
Ức-kiếp
không cùng-tận.
Chí
tâm đỉnh-lễ: Nam-mô tận hư-không, biến pháp-giới, quá,
hiện, vị-lai thập phương chư Phật, Tôn-Pháp, Hiền-Thánh-Tăng
thường-trụ Tam-bảo. (1 lạy)
Chí
tâm đỉnh-lễ: Nam-mô Sa-bà Giáo-chủ Bổn-Sư Thích-Ca Mưu-Ni
Phật, Long-Hoa Giáo-chủ đương-lai hạ sinh Di-Lặc Tôn-Phật,
Đại-trí Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-tát, Đại-hạnh Phổ-Hiền Bồ-Tát,
Hộ-pháp Chư tôn Bồ-tát, Đạo-tràng hội thượng Phật Bồ-Tát.
(1 lạy)
Chí
tâm đỉnh-lễ: Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới đại-từ
đại-bi A-Di-Đà Phật, Đại-Bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát, Đại-Thế-Chí
Bồ-tát, Đại-Nguyện Địa-Tạng-Vương Bồ-tát, Thanh-Tịnh
đại-hải-chúng Bồ-tát. (1 lạy) ***
(Lạy
xong, ngồi tụng):
Lò
hương vừa đốt,
Cõi
pháp thơm lây.
Chư
Phật bốn biển đều xa hay.
Thấ
tâm thành này,
Chư
Phật hiện thân ngay.
Nam
mô Hương Vân Cái Bồ Tát ma-ha-tát (3 lần)
(Chuyển
mõ. Tụng bài sám nguyện):
Đệ-tử
kính lạy,
Đức
Phật Thích-Ca,
Phật
A-Di-Đà,
Thập-phương
chư Phật,
Vô-thượng
Phật-pháp,
Cùng
Thánh-Hiền-Tăng.
Đệ-tử
lâu đời lâu kiếp,
Nghiệp-chướng
nặng nề,
Tham,
giận kiêu-căng,
Si-mê
lầm lạc,
Ngày
nay nhờ Phật,
Biết
sự lỗi lầm,
Thành-tâm
sám-hối,
Thề
tránh điều dữ,
Nguyện
làm điều lành,
Ngửa
trông ơn Phật,
Từ-bi
gia-hộ:
Thân
không tật bệnh,
Tâm
không phiền-não,
Hằng
ngày an-vui tu-tập,
Phép
Phật nhiệm-mầu,
Để
mau ra khỏi luân-hồi,
Minh-tâm
kiến-tính,
Trí-tuệ
sáng suốt,
Thần-thông
tự-tại,
Đặng
cứu-độ các bậc tôn-trưởng,
Cha
mẹ anh em,
Thân-bằng
quyến-thuộc,
Cùng
tất cả chúng-sinh,
Đồng
thành Phật-đạo.
(Chuyển
mõ. Tụng tiếp):
KỆ
KHAI KINH:
Pháp
Phật cao-siêu rất nhiệm-mầu,
Nghìn
muôn ức kiếp dễ hay đâu.
Con
nay nghe, thấy xin vâng giữ,
Chân-nghĩa
Như-Lai hiểu thật sâu.
Nam-Mô
Bản-Sư Thích-Ca Mưu-Ni Phật. (3 lần)
PHẬT NÓI
KINH THẬP-THIỆN
NGHIỆP-ĐẠO (1)
-
Ngài Thực-Soa-Nan-Đà dịch chữ Phạn ra chữ Hán
-
Thích-Tâm-Châu dịch chữ Hán ra chữ Việt
Chính
tôi được nghe (2): Một thời kia đức Phật ở chốn Long-Cung:
Sa-Kiệt-La (3), cùng với tám nghìn chúng Đại-Tỳ-Khưu và
ba vạn hai nghìn vị Đại-Bồ-Tát. (4)
Bấy
giờ, đức Thế-Tôn bảo Long-Vương rằng: “Tâm-tưởng của
hết thảy chúng-sinh khác nhau, sự tạo nghiệp của họ cũng
khác, nên mới có sự luân-chuyển trong mọi thú”.
Này
Long-Vương! Ông có thấy những vị đương trong hội này cũng
như những hình-sắc của mọi loài trong đại-hải này, đều
khác nhau không?
- Như
thế, hết thảy không phải do tâm tạo ra thiện và bất thiện
của nghiệp thân, nghiệp miệng, nghiệp ý mà có những hình-sắc
ấy là gì?
Song,
TÂM không có SẮC, không thể nào nhận thấy được. Và, đó
chỉ là sự giả-dối của mọi pháp hợp-tập gây nên, rốt-ráo
không có chủ, không có ta, cũng không có cái gì của ta. Tuy
đều tùy nghiệp hiện ra không đồng, mà trong ấy thực không
có tác-giả, nên hết thảy pháp đều không thể nghĩ, bàn
được về tự-tính như-huyễn của nó.
Bậc
trí-giả biết thế rồi, nên tu thiện-nghiệp và do đó sẽ
sinh ra năm UẨN (5), mười hai XỨ (6), mười tám GIỚI (7)...
đều được đoan-chính, ai trông thấy cũng đều vui-vẻ không
chán.
Này
Long-Vương! Ông xem thân của Phật, từ trăm, nghìn, ức phúc-đức
sinh ra, mọi tướng trang-nghiêm, ánh sáng rực-rỡ, tỏa khắp
đại-chúng; dù có đến vô lượng ức vị Tự-Tại Phạm-Vương
cũng không thể hiển-hiện như thế được. Ai được chiêm-ngưỡng
thân của Như-Lai lại không lóa mắt!
Ông
lại xem thân của các vị Đại-Bồ-Tát đây, diệu-sắc nghiêm-tịnh,
hết thảy đều do tu-tập phúc-đức thiện-nghiệp sinh ra.
Lại,
các hàng Thiên, Long bát bộ (8)..., có uy-thế lớn cũng bởi
phúc-đức thiện-nghiệp sinh ra.
Và,
ngay như trong đại-hải này có những chúng-sinh hình-sắc thô-xấu,
hoặc lớn hoặc nhỏ cũng đều do những tưởng-niệm nơi
tự-tâm, tạo ra những nghiệp bất thiện của thân, miệng,
ý, nên tùy nghiệp, họ tự chịu lấy báo-thân như thế.
Nay
ông thường nên tu, học như thế và cũng nên làm sao cho chúng-sinh
hiểu-thấu nhân-quả, tu-tập thiện-nghiệp như thế. Được
thế, nhân chỗ chính-kiến bất động ấy ông sẽ không rơi
vào đoạn-kiến, thường-kiến (9). Đối với những ruộng
phúc (10) các ông hoan-hỷ, cung-kính, cúng-dường, nên các ông
cũng được Nhân, Thiên tôn-kính, cúng-dường.
Long-Vương
nên biết! Bồ-Tát có một pháp dứt được hết thảy khổ-não
trong mọi đường ác. Một pháp ấy là gì?
- Nghĩa
là ngày đêm thường nhớ, nghĩ, quán-sát thiện-pháp, làm
cho những thiện-pháp ấy, niệm-niệm tăng-trưởng và không
dung hào phân bất thiện nào xen vào. Thế tức là hay khiến
mọi ác dứt hẳn, thiện-pháp viên-mãn, thường được thân-cận
chư Phật, Bồ-Tát và Thánh-Chúng.
Thiện-pháp
ấy là gì? - Nghĩa là, thân của Nhân, Thiên, đạo Bồ-Đề
của hàng Thanh-Văn, đạo Bồ-Đề của hàng Độc-Giác và
đạo-quả Vô-Thượng Bồ-Đề, đều y vào pháp ấy làm căn-bản
mà được thành-tựu, nên gọi là thiện-pháp. Và, thiện-pháp
ấy tức là mười thiện-nghiệp-đạo. Những gì là mười?
- Nghĩa
là, xa hẳn những nghiệp: sát-sinh, trộm cắp, tà hạnh; nói
dối, hai lưỡi, ác-khẩu, nói khéo; tham-dục, giận-dữ và
tà-kiến.
Này
Long-Vương! Nếu tránh nghiệp sát-sinh, liền thành-tựu được
mười pháp lìa xa phiền-não. Những gì là mười? - Một là,
phổ-thí đức vô-úy đối với mọi chúng-sinh. Hai là, thường
khởi tâm đại-từ đối với chúng-sinh. Ba là, dứt hẳn hết
thảy tập-khí (11) giận-dữ. Bốn là, thân thường không có
tật-bệnh. Năm là, thọ-mệnh lâu dài. Sáu là, thường được
hàng Phi-nhân (12) thủ-hộ. Bảy là, thường không ác mộng,
thức, ngủ vui-vẻ. Tám là, diệt trừ oán-kết, mọi oán tự
giải. Chín là, không sợ sa vào đường ác. Mười là, sau
khi mệnh mất được sinh lên cõi trời. Ấy là mười pháp.
Nếu đem mười pháp ấy hồi-hướng đạo Vô-thượng Chính-đẳng
Chính-giác, sau khi thành Phật, được quả vị Phật, thọ-mệnh
sẽ tùy tâm tự-tại.
Lại
nữa, Long-Vương! Nếu xa-lìa nghiệp trộm-cắp, liền được
mười pháp có thể bảo-đảm, tin-tưởng. Những gì là mười?
- Một là, của-cải đầy-dẫy, vua, giặc, nước, lửa và
con hư-không không thể làm tan mất mất được. Hai là, nhiều
người yêu-mến. Ba là, người không lừa gạt. Bốn là, mười
phương khen ngợi. Năm là, không lo tổn hại. Sáu là, tiếng
lành đồn xa. Bảy là, ở chốn đông người không sợ. Tám
là, của cải, thọ-mệnh, hình-sắc, sức-lực, yên-vui, biện-tài
đầy-đủ không thiếu. Chín là, thường sẵn lòng bố-thí.
Mười là, sau khi mệnh mất được sinh lên cõi trời. Ấy
là mười pháp. Nếu đem mười pháp ấy hồi-hướng đạo
Vô-thượng Chính-đẳng Chính-giác, sau khi thành Phật, chứng
được trí thanh-tịnh Đại-Bồ-Đề.
Lại
nữa, Long-Vương! Nếu xa-lìa nghiệp tà-hạnh, liền được
bốn pháp mà bậc trí-giả khen-ngợi. Những gì là bốn? -
Một là, mọi căn điều-hòa, thuận-lợi. Hai là, xa hẳn sự
xôn-xao. Ba là, được đời khen-ngợi. Bốn là, vợ không bị
ai xâm-phạm. Ấy là bốn pháp. Nếu đem bốn pháp ấy hồi-hướng
đạo Vô-thượng Chính-đẳng Chính-giác, sau khi thành Phật,
được cái tàng-tướng ẩn-mật của Phật, Đại-Trượng-Phu.
Lại
nữa, Long-Vương! Nếu xa-lìa nghiệp nói dối, liền được
tám pháp mà chư Thiên khen-ngợi. Những gì là tám? - Một là,
miệng thường thơm, sạch như hoa sen. Hai là, được mọi người
đời tín-phục. Ba là, nói lời thành-chứng, Nhân, Thiên kính-ái.
Bốn là, thường đem lời dịu-dàng, an-ủi chúng-sinh. Năm
là, được ý vui thù-thắng (13) ba nghiệp thanh-tịnh. Sáu là,
nói không lầm-lẫn, tâm thường hoan-hỷ. Bảy là, nói lời
tôn-trọng, Nhân, Thiên vâng làm. Tám là, trí-tuệ thù-thắng,
không ai có thể chế-phục được. Ấy là tám pháp. Nếu đem
tám pháp ấy hồi-hướng đạo Vô-thượng Chính-đẳng Chính-giác,
sau khi thành Phật, liền được chân-thực-ngữ của Như-Lai.
Lại
nữa, Long-Vương! Nếu xa-lìa nghiệp hai lưỡi, liền được
năm pháp không thể phá-hoại. Những gì là năm? -Một là,
được thân bất hoại, không gì có thể hoại được. Hai
là, được quyến-thuộc bất hoại, không gì có thể phá được.
Ba là, được lòng tin bất hoại, thuận theo bản-nghiệp. Bốn
là, được pháp-hạnh bất hoại, chỗ tu kiên-cố. Năm là,
được thiện-tri-thức bất hoại, không bị lừa-dối. Ấy
là năm pháp. Nếu đem năm pháp ấy hồi-hướng đạo Vô-thượng
Chính-đẳng Chính-giác, sau khi thành Phật, được quyến-thuộc
chân-chính, các ma ngoại-đạo không thể làm tan-hoại được.
Lại
nữa, Long-Vương! Nếu xa-lìa nghiệp ác-khẩu, liền thành-tựu
được tám thứ tịnh-nghiệp. Những gì là tám? -Một là,
lời nói không trái pháp-độ. Hai là, lời nói ra đều lợi-ích.
Ba là, lời nói quyết-định hợp lý. Bốn là, lời nói đẹp-đẽ.
Năm là, lời nói ra người ta thừa-lĩnh được. Sáu là, lời
nói ra người ta tin dùng. Bảy là, lời nói không thể chê-trách
được. Tám là, lời nói ra người ta đều ưa thích. Ấy là
tám pháp. Nếu đem tám pháp ấy, hồi-hướng đạo Vô-thượng
Chính-đẳng Chính-giác, sau khi thành Phật, đầy-đủ Phạm-âm
thanh-tướng của Như-Lai.
Lại
nữa, Long-Vương! Nếu xa-lìa nghiệp nói khéo, liền thành-tựu
được ba thứ quyết-định. Những gì là ba? - Một là, quyết-định
được bậc trí-nhân yêu-mến. Hai là, quyết-định thường
dùng trí-tuệ như-thực vấn đáp. Ba là, quyết-định đối
với Nhân, Thiên uy-đức tối-thắng, không có dối-trá. Ấy
là ba pháp. Nếu đem ba pháp ấy, hồi-hướng đạo Vô-thượng
Chính-đẳng Chính-giác, sau khi thành Phật, được Như-Lai thụ-ký,
đều không luống dối.
Lại
nữa, Long-Vương! Nếu xa-lìa tham-dục, liền thành-tựu được
năm thứ tự-tại. Những gì là năm? - Một là, ba nghiệp tự-tại,
mọi căn đầy-đủ. Hai là, của cải tự-tại, hết thảy
oán-tặc không hề cướp-đoạt. Ba là, phúc-đức tự-tại,
tùy tâm muốn gì, vật-dụng đều đủ. Bốn là, vương-vị
tự-tại, đồ-vật quý lạ đều đem phụng-hiến. Năm là,
những vật được dùng, thù-thắng gấp trăm lần bản-tâm
mong cầu, vì thời trước không bỏn-xẻn, ghen-ghét. Ấy là
năm pháp. Nếu đem năm pháp ấy, hồi-hướng đạo Vô-thượng
Chính-đẳng, Chính-giác, sau khi thành Phật, ba cõi (14) đặc
biệt tôn-trọng và đều cung-kính, cúng-dường.
Lại
nữa, Long-Vương! Nếu xa-lìa giận-dữ, liền được tám thứ
tâm pháp hỷ-duyệt. Những gì là tám? - Một là, không có
tâm làm tổn-não ai. Hai là, không có tâm giận-dữ. Ba là,
không có tâm gây sự kiện-cáo. Bốn là, có tâm nhu-hòa, ngay-thực.
Năm là, được từ-tâm của bậc Thánh-giả. Sáu là, tâm thường
làm việc lợi-ích, an-vui cho chúng-sinh. Bảy là, thân-tướng
đoan-nghiêm, chúng đều tôn-kính. Tám là, vì sự hòa-nhẫn,
chóng sinh lên thế-giới Phạm-thiên. Ấy là tám pháp. Nếu
đem tám pháp ấy hồi-hướng đạo Vô-thượng Chính-đẳng
Chính-giác, sau khi thành Phật, được tâm vô-ngại, của Phật,
người trông không chán.
Lại
nữa, Long-Vương! Nếu xa-lìa tà-kiến, liền thành-tựu được
mười pháp công-đức. Những gì là mười? - Một là, được
ý vui chân-thiện và bạn-bè chân-thiện. Hai là, thâm tín nhân-quả,
thà bỏ thân-mệnh trọn không làm ác. Ba là, chỉ quy-y Phật,
không quy-y các Thiên-thần. Bốn là, lòng ngay, thấy chính,
lìa hẳn hết thảy lưới ngờ: tốt, xấu. Năm là, thường
sinh trong cõi Nhân, Thiên, không sa đường ác. Sáu là, vô lượng
phúc-tuệ, dần-dần thêm hơn. Bảy là, lìa hẳn tà-đạo,
tu-hành Thánh-đạo. Tám là, không khởi thân-kiến (15) bỏ
mọi nghiệp ác. Chín là, trụ vào kiến-giải vô-ngại. Mười
là, không sa vào những nạn-xứ. Ấy là mười pháp. Nếu đem
mười pháp ấy hồi-hướng đạo Vô-thượng Chính-đẳng Chính-giác,
sau khi thành Phật, mau chứng hết thảy pháp của Phật, thành-tựu
thần-thông tự-tại.
Bấy
giờ, đức Thế-Tôn lại bảo Long-Vương rằng: “Nếu có
vị Bồ-Tát nào y vào thiện-nghiệp ấy, trong khi tu đạo,
xa-lìa nghiệp sát-hại, chăm làm bố-thí, thường giầu của
báu, không ai xâm-đoạt, được sống lâu không chết non và
không bị hết thảy oán-tặc làm tổn-hại.
Xa-lìa
nghiệp không cho mà lấy, chăm làm bố-thí, thường giầu của
báu, không ai xâm-đoạt, được sự tối-thắng, không ai sánh
kịp và đều hay tập-hợp đầy-đủ những pháp-tạng của
chư Phật.
Xa-lìa
nghiệp không đúng Phạm-hạnh, chăm làm bố-thí, thường giầu
của báu, không ai xâm-đoạt, mà mình trinh-thuận, mẹ và vợ,
con, không ai thường đem lòng dục mà nhìn ngó ngoài.
Xa-lìa
lời nói dối-trá, chăm làm bố-thí, thường giầu của báu,
không ai xâm-đoạt, tránh mọi hủy-báng, thu giữ chính-pháp,
như lời thệ-nguyện của mình, việc làm quyết-định kết-quả.
Xa-lìa
lời ly-gián, chăm làm bố-thí, thường giầu của báu, không
ai xâm-đoạt, quyến-thuộc hòa-mục, đồng vui một chí, thường
không có sự tranh-đấu ngang-trái.
Xa-lìa
lời thô-ác, chăm làm bố-thí, thường giầu của báu, không
ai xâm-đoạt, hết thảy chúng-hội, hoan-hỷ quy-y và lời nói
ra ai cũng đều tín-thụ, không chút trái-nghịch.
Xa-lìa
lời nói vô nghĩa, chăm làm bố-thí, thường giầu của báu,
không ai xâm-đoạt, lời nói không hư-thiết, người đều
kính-thụ, hay dùng thiện-phương-tiện, dứt mọi ngờ vực.
Xa-lìa
tâm tham-cầu, chăm làm bố-thí, thường giầu của báu, không
ai xâm-đoạt, hết thảy vật sở-hữu, đều đem ban cấp,
tín giải kiên-cố, đủ uy-lực lớn.
Xa-lìa
tâm bực tức, chăm làm bố-thí, thường giầu của báu, không
ai xâm-đoạt, chóng tự thành-tựu tâm trí vô-ngại, mọi căn
nghiêm-trang, tốt đẹp, ai thấy cũng đều kính-ái.
Xa-lìa
tâm tà-đảo, chăm làm bố-thí, thường giầu của báu, kông
ai xâm-đoạt, thường sinh vào nhà kính-tín chính-kiến, thấy
Phật, nghe Pháp, cúng-dường chúng Tăng và thường không quên
mất tâm Đại-Bồ-Đề.
Ấy
là bậc Đại-Sĩ trong khi tu đạo Bồ-Tát, làm mười nghiệp
thiện, dùng bố-thí trang-nghiêm, được lợi-ích lớn.”
Như
thế, Long-Vương! Thiết-yếu mà nói, thực-hành mười thiện-đạo,
dùng trì-giới trang-nghiêm, hay sinh hết thảy nghĩa lợi của
Phật-Pháp và đầy-đủ đại-nguyện. Dùng nhẫn-nhục trang-nghiêm,
được viên-âm của Phật, đủ mọi tướng tốt. Dùng tinh-tiến
trang-nghiêm hay phá ma oán, nhập Pháp-tạng của Phật. Dùng
thiền-định trang-nghiêm, hay sinh niệm, tuệ, tàm-quý, khinh-an
(16). Dùng trí-tuệ trang-nghiêm, hay dứt hết thảy phân-biệt
vọng-kiến.
Lòng
từ trang-nghiêm, đối với chúng-sinh không khởi não-hại.
Lòng bi trang-nghiêm, thương mọi chúng-sinh thường không chán
bỏ. Lòng hỷ trang-nghiêm, thấy người tu thiện, tâm không
hiềm ghét. Lòng xả trang-nghiêm, đối cảnh thuận, nghịch,
tâm không thương, giận.
Bốn
nhiếp pháp (17) trang-nghiêm, thường siêng nhiếp-hóa hết thảy
chúng-sinh.
Niệm
xứ trang-nghiêm, khéo hay tu-tập bốn quán niệm xứ (18). Chính-cần
(19) trang-nghiêm, đều hay dứt trừ hết thảy bất-thiện-pháp,
thành hết thảy thiện-pháp. Thần-túc (20) trang-nghiêm, thường
khiến thân tâm vui-vẻ, nhẹ-nhàng. Năm căn (21) trang-nghiêm,
thâm tín kiên-cố, tinh-cần không biếng, thường không mê-vọng,
vắng-lặng điều-thuận, dứt mọi phiền-não. Năm lực (22)
trang-nghiêm, mọi oán diệt hết, không gì hoại được. Giác-chi
(23) trang-nghiêm, thường khéo giác-ngộ hết thảy mọi pháp.
Chính-đạo (24) trang-nghiêm, được chính-trí-tuệ, thường
hiện ở trước. CHỈ trang-nghiêm nên gột bỏ được hết
thảy kết-sử. QUÁN trang-nghiêm nên hay như-thực biết được
tự-tính của mọi pháp. PHƯƠNG-TIỆN trang-nghiêm, chóng thành
đầy-đủ sự vui vô-vi.
Long-Vương
nên biết! “Mười nghiệp thiện ấy hay khiến mười LỰC
(25), bốn pháp VÔ ÚY (26), mười tám pháp BẤT CỘNG (27) cùng
hết thảy Phật-Pháp đều được viên-mãn. Vì thế, các ông
nên siêng tu-học”.
Này
Long-Vương! ví như hết thảy thành, ấp, làng, xóm, đều y
vào đại-địa mà được an-trụ, hết thảy dược-thảo,
cỏ cây, rừng-rú cũng y vào đại-địa mà được sinh-trưởng;
mười thiện-đạo ấy cũng lại như thế: Hết thảy Nhân,
Thiên y vào đó mà an-lập; hết thảy Thanh-Văn, Độc-Giác,
Bồ-Đề, mọi hạnh Bồ-Tát và hết thảy Phật-Pháp, cùng
y vào đại-địa của mười thiện mà được thành-tựu”.
Đức
Phật nói kinh này rồi, Sa-Kiệt-La Long-Vương cùng toàn-thể
đại-chúng hết thảy thế-gian Thiên, Nhân, A-Tu-La... đều
rất hoan-hỷ, tín-thụ phụng-hành.
TÂM-KINH BÁT-NHÃ
BA-LA-MẬT-ĐA
Khi
Ngài Quán-Tự-Tại Bồ-Tát, thực-hành sâu xa pháp Bát-nhã
ba-la-mật-đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy
khổ-ách.
Này
ông Xá-Lỵ-Tử! Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc.
Sắc tức là Không, Không tức là Sắc. Thụ, Tưởng, Hành,
Thức cũng đều như thế!
Này
ông Xá-Ly-Tử! Tướng Không của mọi pháp, không sinh, không
diệt, không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt. Cho nên,
trong Chân-Không, không có Sắc, không có Thụ, Tưởng, Hành,
Thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp; không có nhãn-giới, cho đến
không có ý-thức-giới; không có vô-minh, cũng không có cái
hết vô-minh, cho đến không có già, chết cũng không có cái
hết già, chết; không có khổ, tập, diệt, đạo; không có
trí-tuệ cũng không có chứng-đắc. Vì không có chỗ chứng-đắc,
nên Bồ-Tát y theo Bát-nhã ba-la-mật-đa, tâm không ngăn ngại.
Vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, xa hẳn mộng-tưởng
điên-đảo, đạt tới cứu-cánh Niết-Bàn. Chư Phật trong
ba đời cũng y vào Bát-nhã ba-la-mật-đa, được đạo-quả
Vô-thượng chính-đẳng chính-giác.
Cho
nên biết Bát-nhã ba-la-mật-đa là đại-thần-chú, là đại-minh-chú,
là vô-thượng-chú, là vô-đẳng đẳng-chu, trừ được hết
thảy khổ, chân-thực không hư.
Vì
vậy, nói ra bài chú Bát-nhã ba-la-mật-đa liền nói bài chú
ấy rằng:
“Yết-đế,
yết-đế. Ba-la yết-đế. Ba-la-tăng yết-đế. Bồ-đề tát
bà ha”. (3 lần)
(Chuyển
mõ. Tụng tiếp):
Đại-từ,
đại-bi thương chúng-sinh,
Đại-hỷ,
đại-xả cứu muôn loài.
Tướng
tốt sáng ngời tự trang-nghiêm,
Đệ-tử
chí-tâm quy-mệnh lễ.
Nam-mô
Sa-Bà Giáo-Chủ Bản-Sư Thích-Ca Mưu-Ni Phật (3 lần)
Nam-mô
Thích-Ca Mưu-Ni Phật (10 lần)
Nam-mô
A-Di-Đà Phật (10 lần)
Nam-mô
Di-Lặc Tôn Phật (10 lần)
Nam-mô
Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-Tát (3 lần)
Nam-mô
Phổ-Hiền Bồ-Tát (3 lần)
Nam-mô
Quán-Thế-Âm Bồ-Tát (3 lần)
Nam-mô
Đại-Thế-Chí Bồ-Tát (3 lần)
Nam-mô
Địa-Tạng-Vương Bồ-Tát (3 lần)
Nam-mô
Thanh-Tịnh Đại-Hải-Chúng Bồ-Tát (3 lần)
(niệm
xong, tụng tiếp bài phát-nguyện):
Chúng-sinh
không số lượng,
Thệ-nguyện
đều độ khắp.
Phiền-não
không cùng-tận,
Thệ-nguyện
đều dứt sạch.
Pháp-môn
không kể xiết,
Thệ-nguyện
đều tu-học.
Phật-đạo
không gì hơn,
Thệ-nguyện
được viên-thành.
Công-đức
tụng kinh khó nghĩ lường,
Vô
biên thắng phước đều hồi hướng.
Khắp
nguyện chúng sinh trong pháp giới;
Đều
được vãng sinh về Cực-Lạc.
Nguyện
tiêu ba chướng trừ phiền não,
Nguyện
chân trí-tuệ thường sáng tỏ,
Nguyện
bao tội chướng thảy tiêu trừ,
Kiếp
kiếp thường tu Bồ-Tát đạo.
Nguyện
sinh Cực-Lạc cảnh phương Tây,
Chín
phẩm hoa sen là cha mẹ,
Hoa
nở thấy Phật chứng vô sinh,
Bồ-Tát
bất thoái là bạn hữu.
PHỤC
NGUYỆN
Kính
mong:
Phật
nhật tỏ thêm, pháp-luân quay mãi. Mây từ rợp khắp, nguồn
đạo dài lâu. Quốc-gia hưng vượng, dân chúng an hòa. Thế
giới thanh bình, chúng sinh hoan lạc.
Cúi
xin:
Công-đức
trì chú, niệm Phật, tụng kinh, hồi hướng Tây phương, trang-nghiêm
Tịnh độ; báo bốn trọng ân, giúp ba đường khổ. Hiện
tiền tứ chúng, tăng trưởng thắng nhân; quá vãng chân linh,
siêu sinh Lạc-quốc. Âm dương đều lợi, ba cõi cùng nhờ,
pháp giới chúng sinh, đồng thành Phật đạo.
(Đại
chúng cùng đọc)
Nam-Mô
A-Di-Đà Phật
(Đại
chúng đứng dậy, chắp tay đọc):
Tự
quy-y Phật, xin nguyện chúng-sinh,
thể
theo đạo cả, phát lòng vô-thượng. (1 lạy)
Tự
quy-y Pháp, xin nguyện chúng-sinh,
thấu
rõ Kinh-tạng, trí-tuệ như biển. (1 lạy)
Tự
quy-y Tăng, xin nguyện chúng-sinh,
thống-lý
đại-chúng, hết thảy không ngại. (1 lạy)
Nguyện
đem công-đức này,
Hướng
về khắp tất cả.
Đệ-tử
và chúng-sinh,
Đều
trọn thành Phật-đạo.
(Xá
3 xá rồi lui ra)
Chú-Thích:
1)
Kinh Thập-Thiện Nghiệp-Đạo là cuốn kinh số 600 trong Đại-Tạng-Kinh
do Ngài Thực-Soa-Nan-Đà (Siksànanda: Tàu dịch là Học-Hỷ)
dịch chữ Phạm ra chữ Hán.
2)
Chính tôi được nghe: Là lời Tôn-Giả A-Nan tự xưng. Ít lâu
sau khi đức Phật nhập Niết-Bàn, chư vị Thánh-Tăng nhóm
họp lại để kết-tập những lời Phật dạy. Tôn-Giả A-Nan
được đề-cử tụng Kinh-tạng, do đó, đầu mỗi kinh đều
có ghi câu “Chính tôi được nghe”, để chứng tín.
3)
Sa-Kiệt-La (Sàgara): Tàu dịch là Hàm-Hải (bể nước mặn).
4)
Tỳ-Khưu (Bhiksu): Trung-Hoa dịch là “Khất-sĩ”. Nghĩa là
người tu hành, trên cầu đạo của chư Phật để tu tỉnh,
dưới đi xin ăn nơi quần-chúng để tiện hóa độ. Tỳ-Khưu
có hai phái. Phái nam gọi là Tỳ-Khưu giữ 250 giới. Phái nữ
gọi là Tỳ- Khưu-ni (Bhiksuni) giữ 348 giới.
Bồ-Tát
(Bodhisattva): Gọi đủ là Bồ-đề-tát-đỏa. Trung-Hoa dịch
nghĩa là “Giác hữu tình”. Nghĩa là những vị phát đại
tâm, vì chúng-sinh cầu đạo vô thượng, và luôn luôn giác-ngộ
chúng-sinh thành vô-thượng-đạo.
5)
Năm uẩn: Có chỗ gọi năm ấm. Là năm thứ ngăn-che mất chân-tính.
Năm thứ ấy là: sắc, thụ, tưởng, hành, thức.
6)
Mười hai xứ: Có chỗ gọi là mười hai nhập. Tức là sáu
căn: nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý và sáu trần (cảnh): sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp.
7)
Mười tám giới: Là sáu căn, sáu trần như trên và thêm sáu
thức: nhãn-thức, nhĩ-thức, tỵ-thức, thiệt-thức, thân-thức
và ý-thức thành 18 giới.
8)
Thiên, Long bát bộ: Là nói bao quát tám bộ chúng thường tới
nghe Phật thuyết-pháp và hộ-trì chính-pháp mà mắt người
không thể trông thấy được. Tám bộ ấy là: 1) Thiên (Deva:
các vị trong cõi trời). 2) Long (Nàga: rồng là loài vua dưới
nước). 3) Dạ-Soa (Yaksa: quỷ-thần bay trên không; cũng có
chỗ gọi là Dược-Soa). 4) Càn-Thát-Bà (Gandharva: dịch là
Hương-Ấm, là Nhạc-Thần trong cung vua Đế-Thích). 5) A-Tu-La
(Asura: dịch là Phi-Thiên, tức là một loại quỷ-thần có
phúc-báo gần như trời...). 6) Ca-Lâu-La (Garuda: dịch là Kim-Sí-Điểu).
7) Khẩn-Na-La (Kimnara: dịch là Ca-Thần cũng là vị Nhạc-thần
trong cung vua Đế-Thích). 8) Ma-Hầu-La-Già (Mahoraga: dịch là
Đại-Mãng-Thần, tức là loài địa-long vậy).
9)
Đoạn-kiến, thường-kiến: Đây là hai thứ kiến-giải của
những con người thiên-chấp. Đoạn-kiến là không tin nghiệp-quả,
cố-chấp thân-tâm con người chết đi là hết không tục-sinh
nữa, phóng tâm làm ác, không sợ hậu-báo. Thường-kiến là
cố-chấp thân-tâm con người thường-trụ không gián-đoạn
mặc dầu trải qua thời-gian quá-khứ, hiện-tại, vị-lai,
do đó tạo những nghiệp thiện, ác cho là không quan-hệ gì
đến sự sướng, khổ của thân này.
10)
Những ruộng phúc: Là nơi gieo trồng mầm phúc-đức. Ruộng
phúc phân-tích có 8, nhưng bao-quát lại thời có 3 thứ: 1)
Cung-kính chư Phật, Thánh-nhân, chư Tăng gọi là Kính-điền.
2) Hiếu-thuận với những người có ân như: cha mẹ, Hòa-Thượng,
A-Xà-Lê... gọi là Ân-điền. 3) Thương xót, cứu giúp chúng-sinh
cùng những người yếu-đau gọi là Bi-điền.
11)
Tập-khí: Là một vọng-hoặc trong 3 vọng-hoặc của Đại-thừa-giáo.
Tập-khí thông-thường gọi là thói quen. Là cái hơi hướng
do sự huân-tập những trần-cảnh mà thành.
12)
Phi-nhân: Là chỉ vào các hàng quỷ-thần.
13)
Thù-thắng: Là chỉ cho những sự siêu-tuyệt, mà đời khó
có.
14)
Ba cõi: Cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô-Sắc.
15)
Thân-kiến (Satkàyadrsti): Tà-kiến đối với thân chấp là
thực-ngã.
16)
Niệm, tuệ, tàm-quý, khinh-an: Đây là nói về những tâm-sở
thiện phát hiện trong khi nhập định.
17)
Bốn nhiếp pháp: Nghĩa là 4 phương-pháp nhiếp-phục, hóa-độ
chúng-sinh. Bốn phương-pháp ấy là: bố-thí, ái-ngữ, lợi-hành
và đồng-sự.
18)
Bốn niệm xứ: Tức là 4 pháp quán-niệm: quán thân bất tịnh,
quán thụ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã.
19)
Chính-cần: 4 pháp cố gắng hành-trì một cách chân-chính:
1) Điều ác đã sinh, làm cho dứt hẳn. 2) Điều ác chưa sinh,
làm cho không thể sinh được. 3) Điều thiện chưa sinh làm
cho chóng sinh. 4) Điều thiện đã sinh làm cho tăng-trưởng.
20)
Thần-túc: còn gọi là 4 như-ý-túc: Tức là 4 pháp thực hành
làm cho sự tu thiền được đầy đủ như ý bằng sự linh-diệu:Dục,
niệm, tiến và tuệ.
21)
Năm căn: Tín, tinh-tiến, niệm, định và tuệ.
22)
Năm lực: Tín-lực, tinh-tiến-lực, niệm-lực, định-lực
và tuệ-lực.
23)
Giác-chi: Tức là 7 ngành giác-ngộ: Trạch-pháp, tinh-tiến,
hỷ, khinh-an, niệm, định và hành-xả.
24)
Chính-đạo: Tức là 8 chính-đạo: Chính-kiến, chính-tư-duy,
chính-ngữ, chính-nghiệp, chính-mệnh, chính-tinh-tiến, chính-niệm
và chính-định.
25)
Mười lực: Đây là 10 lực của Như-Lai: 1) Trí-lực biết
chỗ giác-ngộ, hay chẳng phải chỗ giác-ngộ. 2) Trí-lực
biết nhân-quả nghiệp-báo 3 đời của chúng-sinh. 3) Trí-lực
biết mọi phép thiền giải-thoát tam-muội. 4) Trí-lực biết
mọi pháp thiền-định và 8 giải-thoát tam-muội. 5) Trí-lực
biết mọi tri-giải. 6) Trí-lực biết mọi cảnh-giới. 7) Trí-lực
biết được chỗ sẽ đến của mọi đường (đạo). 8) Trí-lực
biết dùng thiên-nhãn không chướng-ngại. 9) Trí-lực biết
túc-mệnh vô-lậu. 10) Trí-lực biết dứt hẳn tập-khí.
26)
Bốn pháp vô úy: Là bốn pháp nói về tâm hóa độ tha nhân
không khiếp sợ. Vô úy có hai: Vô úy của Bồ-Tát và Vô úy
của Phật:
A.-
Vô úy của Phật: 1) Nhất-thiết-trí vô úy. 2) Lậu-tận vô
úy. 3) Chướng-đạo vô úy. 4) Tận-khổ-đạo vô úy.
B.-
Vô úy của Bồ-Tát: 1) Ghi nhớ không quên nên thuyết-pháp
không sợ. 2) Biết pháp-dược và biết căn-tính chúng-sinh
nên thuyết-pháp không sợ. 3) Khéo hay vấn đáp nên thuyết-pháp
không sợ. 4) Hay ngắt dứt nỗi ngờ của chúng-sinh nên thuyết-pháp
không sợ.
27)
Mười tám pháp bất cộng: Vì không cộng-đồng với các hàng
Nhị-Thừa và Bồ-Tát, nên 18 công-đức này chỉ có ở nơi
Phật nên gọi là “bất cộng”: 1) Thân không lầm. 2) Miệng
không lầm. 3) Niệm không lầm. 4) Không có tưởng khác. 5)
Không có cái gì là không định tâm. 6) Không có cái gì là
không biết xả. 7) Lòng mong muốn độ sinh không diệt. 8) Tinh-tiến
không diệt. 9) Niệm không diệt. 10) Tuệ không diệt. 11) Giải-thoát
không diệt. 12) Giải-thoát tri-kiến không diệt. 13) Hết thảy
nghiệp-thân làm theo trí-tuệ. 14) Hết thảy nghiệp-khẩu làm
theo trí-tuệ. 15) Hết thảy nghiệp-ý làm theo trí-tuệ. 16)
Trí-tuệ biết được đời quá-khứ không bị chướng-ngại.
17) Trí-tuệ biết được đời vị-lai không bị chướng-ngại.
18) Trí-tuệ biết được đời hiện-tại không bị chướng-ngại.
(Chùa
An Lạc)