PHẬT
NÓI
KINH
TỘI PHÚC BÁO ỨNG (1)
Chính
tôi được nghe: (2) một thời kia đức Phật ở trong tịnh-xá
họ Thích, nước Ca-Duy-La-Vệ (Kapilavastu), cùng với một nghìn
hai trăm năm mươi vị Tỳ-Khưu. (3)
Với
bản-nguyện cúng trai của các đàn-việt (4) trong tháng chín,
nhất thời trọn đủ, đức Phật từ trong Thiền-thất bước
ra, đi đến rặng cây của ông Kỳ-đà trong khu vườn của
ông Cấp-Cô-Độc (5) nước Xá-Vệ (Sràvasti).
Khi
Ngài tới giữa ranh-giới hai nước, chỗ ấy có một cây rất
lớn, tên là Ni-Câu-Loại (Nyagrodha) (6) . Cây ấy cao một trăm
hai mươi dậm (7) . Khoảng vuông, tròn của cành, lá cây ấy
che rợp chừng sáu mươi dậm. Quả trên cây ấy chừng vài
vạn hộc và, những quả này ăn vào mùi thơm, ngọt như mật.
Nhất là những quả chín rụng xuống, nhân dân nhặt ăn, mọi
bịnh đều khỏi và con mắt tinh sáng.
Bấy
giờ, đức Phật ngồi nghỉ dưới gốc cây, các vị Tỳ-Khưu
đi hái quả ăn, Đức Phật bảo ông A-Nan: "Ta xem trời, đất,
muôn vật đều có túc-duyên cả!". Ông A-Nan nghe đức Phật
nói thế, ông liền tới trước, làm lễ Phật, quỳ xuống
và bạch Phật rằng: "Lạy Đức Thế-Tôn, Ngài vừa nói về
hai chữ "túc-duyên", vậy những gì là túc-duyên? Nay đệ-tử
chúng con muốn được nghe về những túc-duyên ấy, kính mong
đức Thế-Tôn diễn nói đầy đủ cho chúng con được biết
và để khai hóa cho những người chưa được nghe bao giờ".
Đức
Phật bảo ông A-Nan: "Quý hóa thay! Quý hóa thay! Các ông muốn
nghe những túc-duyên ấy, các ông hãy nhất tâm, lắng nghe
cho kỹ!".
Đức
Phật bảo ông A-Nan: "Người ta làm phúc cũng ví như cây này.
Cây này bản nhiên giống của nó chỉ có một hạt, dần dần
lớn lên, hái quả vô hạn. Hiện nay những người hào-quý
như Quốc-vương, Trưởng-giả, là từ trong chỗ chăm lễ Phật,
thừa-sự Tam-Bảo (8) trước đây mà được. Hiện nay những
người đại-phú, của cải vô hạn, là từ trong chỗ chăm
làm hạnh bố-thí trước đây mà được. Hiện nay những người
trường thọ, không có tật bệnh, thân thể cường tráng,
là từ trong chỗ chăm làm hạnh trì-giới trước đây mà được.
Hiện nay những người đoan chính, nhan sắc tốt đẹp, dáng-dấp
sáng-sủa đệ nhất, thân thể mềm-mại, hơi miệng thơm sạch,
người ta trông thấy tư-dung, không ai là không hoan-hỷ, trông
không chán mắt, là từ trong chỗ chăm làm hạnh nhẫn-nhục
trước đây mà được. Hiện nay những người tu tập, không
hay trễ biếng, ham làm phúc-đức, là từ trong chỗ chăm làm
hạnh tinh-tiến trước đây mà được. Hiện nay những người
an-nhàn, thư-thái, lời nói, việc làm xét thực, là từ trong
chỗ chăm làm hạnh thiền-định trước đây mà được. Hiện
nay những người tài năng minh-mẫn, hiểu thấu pháp sâu xa,
tán-thán nghĩa nhiệm-mầu, khai-ngộ người tối tăm; người
ta nghe thấy lời nói của họ, không ai là không thăm hỏi,
tín-thụ, tuyên-truyền và tin dùng như trân-bảo, là từ trong
chỗ chăm tu hạnh trí-tuệ mà được. Hiện nay những người
giọng tiếng trong trẻo, là từ trong chỗ ca-vịnh công-đức
Tam-Bảo trước đây mà được. Hiện nay những người trong
sạch không có tật bệnh, là từ trong chỗ từ-tâm trước
đây mà được..."
Khi
ấy, ông A-Nan bạch Phật rằng: "Lạy đức Thế-Tôn, thế
nào gọi là từ-tâm?"
Đức
Phật bảo ông A-Nan: "Một là có tâm hiền lành đối với
chúng-sinh như mẹ yêu con. Hai là, có tâm thương xót thế gian,
muốn cho họ có ý-niệm về đạo giải-thoát. Ba là, tâm thường
hoan-hỷ. Bốn là, tâm thường thường hộ-niệm hết thảy,
để cho hết thảy không bị vi-phạm. Thế là từ-tâm."
Đức
Phật bảo ông A-Nan: "Những người được thân hình to lớn,
là trước đây có lòng cung kính người. Những người bị
thân hình nhỏ bé, là trước đây hay khinh-mạn người. Những
người bị thân hình xấu xa là trước đây hay giận tức
với người. Những người sinh ra không biết gì, là trước
đây không có học-vấn. Những người ngu-đặc, là trước
đây không hay dạy bảo người. Những người câm-ngọng, là
trước đây hay báng-hủy người. Những người mù-lòa, là
trước đây không hay nghe theo kinh-pháp. Những người làm tôi
tới, là trước đây còn mang nợ chưa trả. Những người
ty-tiện là trước đây không lễ kính Tam-Bảo. Những người
đen xấu, là trước đây làm che ánh-sáng của Phật. Những
người sinh trong cõi nước khỏa-thân, là trước đây hay mặc
áo mỏng, xốc-xếch, đường-đột vào trong chùa, tháp, tịnh-xá.
Những người sinh trong nước có phong-tục bó chân như móng
ngựa, là trước đây hay đi giầy, guốc vào trước Phật.
Những người sinh trong nước có phong-tục xuyên ngực, là
trước đây tuy bố-thí làm phúc nhưng còn có tâm hối-tiếc.
Những sinh vật sinh trong loài chương, loài hươu, loài nghê,
loài hoẳng... là trước đây hay sợ hãi người. Những sinh-vật
sinh-đọa trong loài rồng, là trước đây hay đùa cợt người.
Những người thân thể mọc những ung-thư ác-độc, điều
trị khó khỏi, là trước đây hay đánh đập chúng sinh. Những
người mà người ta trông thấy hoan-hỷ, là đời trước trông
thấy người ta có lòng hoan-hỷ. Những người mà người ta
trông thấy không hoan-hỷ, là đời trước trông thấy người
ta không có lòng hoan-hỷ. Những người bị Huyện-quan gông
xiềng thân thể, giam giữ trong lao-ngục, là đời trước làm
người hay nhốt, trói chúng-sinh, khiến chúng-sinh không được
theo ý tự-do của mình. Những người bị sứt môi, là đời
trước hay câu cá, làm cá sứt môi. Và, những người nghe
thấy những lời nói tốt lành, tâm không muốn nghe, lại trong
lời nói đó, phải nói ra trái, làm loạn tâm những người
ham nghe và tín-thụ kinh-pháp, người ấy sau phải đọa-sinh
vào trong loài chó vểnh tai".
Đức
Phật bảo ông A-Nan: "Trên đời này có những người ngu-si,
nghe những lời thuyết-pháp, tâm không chịu ghi nhận, sau sẽ
phải đọa-sinh vào trong loài lừa, ngựa tai dài. Những người
sẻn-so, tham ăn một mình, sau phải đọa sinh vào trong loài
quỷ đói và nếu sau sinh làm người, bị nghèo cùng đói thiếu,
áo không che kín mình, ăn không đủ cung miệng. Những người,
mình tự ăn thức ngon, cho người thức ăn dở, sau sẽ đọa-sinh
vào trong loài lợn, chó, bọ-hung. Những ai hay cướp đoạt
súc-vật người, sau sẽ phải đọa-sinh vào trong loài dê,
bị lột sống da dẻ, đền trả nợ trước. Những ai hay sát
sinh, sau sẽ đọa-sinh làm con trùng phù-du trên mặt nước,
sáng sinh chiều chết. Những ai hay ăn trộm tài-vật của người,
sau phải đọa-sinh vào trong hàng tôi tớ, trâu, ngựa, đền
trả nợ trước. Những người hay gian-dâm vợ, hay con gái
người, khi chết vào địa-ngục, con trai phải ôm cột đồng,
con gái phải nằm giường sắt, đến khi ở trong địa-ngục
ra, thường sinh vào nơi hạ-tiện và phải đọa-sinh vào trong
loài gà, vịt. Những người hay nói dối, tuyên-truyền những
việc không hay của người, khi chết vào trong địa-ngục,
phải bị nước đồng nóng rót vào miệng, kéo căng lưỡi
ra, bắt trâu cầy lên trên, đến khi ra, phải đọa-sinh vào
trong loài chim cú, vọ, người ta nghe thấy tiếng kêu, không
ai là không kinh sợ và đều nói là biến-quái, nguyền-rủa
cho chết. Những người hay uống rượu say, phạm vào ba mươi
sáu lỗi (9) , chết đi phải đọa vào ngục Phí-Thỉ (nước
phân sôi), khi ra, sinh đọa vào trong loài đười-ươi; sau trở
lại làm người, ngu-si, sống đời sống không biết chi cả,
vợ chồng không hòa thuận nhau, hay cãi-cọ nhau, hay đánh đuổi
nhau (ly-dị) và sau khi chết đi lại đọa-sinh vào trong loài
chim cưu, chim cáp. Những người hay tham-lam sức lực của người
khác, sau phải đọa-sinh vào trong loài voi."
Đức
Phật bảo ông A-Nan: "Những người đứng đầu Châu, Quận,
thụ tước-lộc quan-trường, hoặc bắt những người vô tội,
hoặc lấn-lút của nhân-dân, biên tên lùng bắt, trăng-trói,
dùng doi gậy đánh đập, cưỡng-bức người dân đem đi, và
tố cáo những chuyện không đâu, rồi đem gông-xiềng, giam
giữ, khiến người dân không được khoan-khoái, thảnh-thơi,
những viên-chức đó sau phải đọa vào địa-ngục, thân bị
đau khổ vài nghìn ức năm, hết tội được ra, lại phải
đọa vào trong loài thủy-ngưu (trâu nước), xuyên thủng lỗ
mũi, kéo thuyền, kéo xe, doi-gậy đánh-đập, đền trả tội
trước".
Đức
Phật bảo ông A-Nan: "Những người không được trong sạch,
là từ trong kiếp lợn mà tới. Những người sẻn-so, tham-lam
không được trong sạch, ngay thẳng, là từ trong kiếp chó
mà tới. Những người cương-cường, tự-dụng tàn-bạo, là
từ trong kiếp dê mà tới. Những người có những hơi hôi-tanh,
là từ trong kiếp cá, kiếp ba-ba mà tới. Những người hung-ác,
mang tâm độc-địa khó hiểu, là từ trong kiếp trăn, kiếp
rắn mà tới. Những người ưa ăn thức ngon, hay sát hại chúng-sinh,
không có từ-tâm, là từ trong kiếp chó sói, hùm beo, con chồn,
chim ưng mà tới. Những người bị chết non, bào-thai bị thương-trụy,
đời sống không được bao nhiêu, mệnh đà mất sớm, phải
sa-đọa vào ba đường vài nghìn muôn kiếp, đức Phật dạy
rằng: những hạng người ấy đời trước làm người hay
đi săn bắn, đốt cháy núi rừng, tìm tổ, đập trứng, chăng
lưới bắt cá, sát hại hết thảy chúng-sinh.
"Ôi!
Ham muốn da thịt chúng-sinh, để mình ăn uống, mà thường
phải chịu báo đoản-mệnh, đời này đời khác, kiếp này,
kiếp khác chịu báo không có kỳ hẹn thoát khỏi, vậy nên
phải cẩn thận, nên phải cẩn thận! Thực đau xót không
thể nói sao xiết được!"
Đức
Phật lại bảo ông A-Nan: "Phàm làm công-đức gì, đều ứng
vào nơi mình. Thắp hương, họp phúc, tụng kinh, hành đạo
không nên mướn người; chú-nguyện hư-dối, như mướn người
ăn hộ, mình có no đâu mà không khỏi đói? Thắp hương mới
mẻ, trong sạch, tưởng như tâm-hương, thu-nghiếp hết thảy
tưởng vào nơi nhất tâm, không còn tạp-tưởng, cùng thắp
đèn sáng mãi không lúc nào tắt, sẽ chứng được ba đạt-trí
(10) , không trở ngại gì. Thắp hương, cúng trai, đọc kinh,
cúng dàng đồ vật là pháp thường làm, lại bố-thí nữa,
sẽ được phúc, chư Thiên tiếp đãi, muôn ác đều lui, mọi
ma trừ sạch, không dám đương đầu. Những người biếng-nhác,
trong khi được sự yên ổn hòa đôi không có tâm tinh-tiến,
một mai đau yếu, hay có điều gì không thuận-lợi, tốt lành,
khi ấy mới muốn thắp hương cầu khẩn và cho đó là làm
phúc, như thế thời chư Thiên chưa giáng, mọi ma đã tới
tranh nhau xúc-nhiêu, làm mọi sự biến đổi, quái gở. Bởi
những lẽ ấy, mọi người thường nên tinh-tiến! Tội, phúc
theo mình, như bóng theo hình. Gieo trồng cội phúc, cũng như
cây Ni-Câu-Loại này, vốn chỉ một hạt mà hái quả vô hạn.
Bố-thí một phần, được gấp muôn phần. Đấy là lời Ta
nói thực, không chút dối-trá!"
Bấy
giờ, đức Phật nói bài tụng rằng:
Hiền-giả
hay bố-thí,
Thiên-thần
tự giúp-đỡ;
Cho
một được gấp muôn,
Yên
vui và sống lâu
Ngày
nay bố-thí nhiều,
Phúc
ấy không thể lường;
Đều
sẽ thành Phật-đạo,
Độ
thoát khắp mười phương.
*
Nhân-duyên
hội-hợp chỉ nên thân:
Năm
giới (11), mười thiện (12), trừ bỏ giận.
Không
mong người hứa, tự làm thân,
Vinh-lạc
thế-gian, như mây nổi.
Vòng-quanh
năm đường như bánh xe,
Kể
gì thọ-mệnh, tiếc vàng bạc.
Trời
đất còn hoại, lọ thân mình,
Vâng
giữ giới kinh, là rất quý.
Đừng
tham tài sắc..., nhục, lầm người
Chúng-sinh
ba cõi (13) như đàn dê;
Đi,
lại năm đường thân tan-tác,
Mệnh
nhanh, nước chảy có thường đâu.
Làm
ác rất chóng, chịu tội lâu,
Đọa
vào địa-ngục vạc dầu nóng.
Ngăn
lòng, bền ý, xa tai-vạ,
...
Phạm tội vào trong, khổ khó chịu!
Đức
Phật bảo ông A-Nan: "Người đời không có trí-tuệ, nên phải
sinh-tử luân-hồi. Vì nhục-nhãn (mắt thịt) nên không biết
tội, phúc. Nay Ta dùng đạo-nhãn (mắt đạo) trông thấy sự
báo-ứng của tội và phúc từ vô số kiếp cho tới thân này,
rõ như xem hạt ngọc lưu-ly trong bàn tay, sáng-suốt tất cả
trong, ngoài, không còn chút ý-tưởng ngờ-vực nào nữa!"
Đến
đây, ông A-Nan liền chỉnh y-phục, tới trước đức Phật,
làm lễ Phật mà bạch Phật rằng: "Lạy đức Thế-Tôn, đức
Thế-Tôn đã diễn nói cho chúng con nghe kinh này, nhưng kinh
này nên gọi là kinh gì?".
Đức
Phật bảo ông A-Nan: "Kinh này gọi là kinh Luân-Chuyển Ngũ
Đạo và cũng gọi là kinh Tội-Phúc Báo-Ứng. Nếu có thiện-nam,
thiện-nữ nào đọc tụng, tuyên-truyền kinh này được công-đức
vô-lượng, sau này sẽ được trông thấy, được lễ-bái,
phụng-sự, cúng-dàng hàng nghìn đức Phật trong đời Hiền-kiếp
(14) không bị sa vào tám nạn (15) , ba đường và sẽ chứng
được Giới, Định, Tuệ".
Đức
Phật nói kinh này rồi, năm trăm vị Tỳ-Khưu, lậu-nghiệp
(phiền-não) sạch hết, tâm ý mở tỏ; bảy trăm vị Tỳ-Khưu-Ni,
được đạo Tu-Đà-Hàm (16) ; tám trăm vị La-Hán (17) , chứng
được đạo Bồ-Tát (18) ; chư Thiên, Long-thần, cùng một
vạn hai nghìn người Thanh-tín-sĩ (thiện-nam), sáu nghìn người
Thanh tín-nữ (thiện-nữ) tụ-tập dưới gốc cây khi ấy,
đều được bước vào dấu-tích của Đạo và các vị Tỳ-Khưu,
Tỳ-Khưu-Ni, Ưu-bà-Tắc (19) , Ưu-bà-Di (20) đều chứng được
đạo-quả A-Na-Hàm. (21)
Thiên,
Long, Quỷ-Thần, thế-gian nhân-dân nghe đức Phật thuyết pháp
mầu-nhiệm này, ai ai cũng đều nói rằng: "Quý-hóa lắm!".
Và, tức thời khởi thân làm lễ Phật, nhiễu Phật ba vòng,
vui mừng lui ra.
Chú-thích:
(1)
Phật (Buddha) là danh từ chung, chỉ cho những ai có khả năng
giác-ngộ hoàn-toàn về ba phương-diện: tự-giác, giác-tha
và giác-hạnh viên-mãn. Vị giác-ngộ hiện-tại là đức Phật
Thích-Ca Mưu-Ni (Sàkya Muni). Tục-danh là Sĩ-Đạt-Ta (Siddharthà).
Ngài là con vua Tịnh-Phạn (Suddodana) con Hoàng-Hậu Ma-Gia (Maya),
nước Ca-Duy-La-Vệ (Kapilavastu) thuộc Trung-Ấn-Độ. Ngài sinh
sáng sớm ngày rằm tháng tư âm-lịch, cách đây (1957) 2581
năm Ngài đi xuất-gia năm 29 tuổi; 35 tuổi thành đạo; thuyết
pháp 45 năm, đến năm 80 tuổi Ngài nhập Niết-bàn tại rừng
Sa-La song-thụ. Trong kinh có hai chữ "Phật nói", là chỉ vào
đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni nói ra. Như kinh này là do chính đức
Phật Thích-Ca Mưu-Ni, hợp cơ-duyên mà nói ra. Kinh này là một
cuốn kinh số 747 trong Đại-Tạng-kinh. Kinh này gọi đủ là:
Kinh Luân-chuyển ngũ đạo, tội phúc báo ứng. Nay rút đề
ngắn lại là "Tội phúc báo-ứng".
Kinh
này đức Phật nói rõ nguyên-nhân làm tội, làm phúc (làm
ác, làm thiện) của chúng-sinh và chúng-sinh sẽ phải chịu
hay được hưởng quả báo xấu, tốt, thích ứng với nguyên-nhân
ấy mà đi, lại, lên, xuống loanh quanh (luân-chuyển) trong năm
đường (ngũ đạo): Địa-ngục, ngã-quỷ, súc-sinh, người
và trời.
(2)
Chính tôi được nghe: Sau khi đức Phật nhập Niết-bàn ít
lâu, các vị Đại Đức Tăng nhóm họp, tụng lại lời Phật
dạy. Người A-Nan được đề-cử tụng Kinh-tạng, nên đầu
mỗi kinh đều có ghi câu "Chính tôi được nghe", là lời tự-xưng
của Ngài A-Nan, để chứng-tín.
(3)
Tỳ-Khưu (Bhiksu): Tàu dịch là "Khất-sĩ". Nghĩa là người
tu-hành, trên cầu đạo của chư Phật để tu-tỉnh, dưới
đi xin ăn nơi quần-chúng để tiện hóa-độ. Tỳ-Khưu có
hai phái. Phái nam gọi là Tỳ-Khưu giữ 250 giới. Phái nữ
gọi là Tỳ-Khưu-Ni (Bhiksuni), giữ 350 giới và 8 điều cung-kính
chư Tăng.
(4)
Đàn-việt (Dànapati): Tức là thí-chủ. Người thí-chủ có
tâm chân-thực và bình-đẳng bố-thí, nhờ công-đức ấy
sẽ vượt qua được bể khổ bần cùng.
(5)
Cây của ông Kỳ-Đà và vườn của ông Cấp-Cô-Độc: Ông
Cấp-Cô-Độc (Anàtapindika) chính tên là Tu-Đạt-Đa (Sudatta),
người nước Xá-Vệ (Sràvasti), vì ông hay cứu giúp những
người cô-độc, nên người đương thời tặng cho ông cái
tên hiệu ấy. Khi ông gặp Phật và nghe pháp ở nước Ma-Yết-Đà,
ông liền thỉnh Phật về nước nhà thuyết pháp, độ sinh.
Để có nơi đức Phật và chúng Tăng cư-trụ, ông phải mua
đất của Thái-Tử Kỳ-Đà (Jeta) với một giá rất đắt
là phải lát vàng kín mặt đất. Ông Cấp-Cô-Độc phát tâm
làm y theo lời của ông Kỳ-Đà nói, chở vàng lát kín đất
và sau đó cất tinh-xá cúng-dàng. Còn các cây do ông Kỳ-Đà
phát tâm cúng. Vì vậy, khi đức Phật tới nơi này, Ngài bảo
ông A-Nan: "Đất vườn này do ông Cấp-Cô-Độc mua cúng, rừng
cây này do ông Kỳ-Đà cúng. Hai người đồng tâm hưng-sùng
công-đức, từ nay về sau nên gọi chốn này là cây của ông
Kỳ-Đà và vườn của ông Cấp-Cô-Độc.
(6)
Ni-Câu-Loại (Nyagrodha): Tàu dịch là Vô-tiết.
(7)
Dậm: Mỗi dậm dài 576 thước Tây.
(8)
Tam-Bảo: Ba ngôi báu: Phật, Pháp, Tăng.
(9)
Uống rượu phạm 36 lỗi: Kinh Thiện ác sở khởi nói: Người
uống rượu say, phạm vào 36 lỗi: 1) Của cải tan mất. 2)
Hiện nhiều tật-bệnh. 3) Hay sinh đấu tranh. 4) Tăng thêm sự
sát-hại. 5) Tăng thêm sự giận bực. 6) Nhiều sự không được
vừa ý. 7) Trí-tuệ kém dần. 8) Phúc-đức không thêm được.
9) Phúc-đức dần bớt đi. 10) Hay tiết-lộ sự bí-mật. 11)
Sự-nghiệp không thành. 12) Tăng thêm lo buồn. 13) Mọi căn
(giác quan) tối tăm. 14) Hủy-nhục cả cha mẹ. 15) Không kính
bậc Sa-Môn. 16) Không tin đạo Bà-La-Môn. 17) Không kính Phật.
18) Không kính Phật-pháp và Tăng. 19) Hay thân với bạn ác.
20) Hay xa bạn lành. 21) Bỏ cả ăn uống. 22) Thân hình không
kín-đáo. 23) Dâm dục kích-thích nhiều. 24) Nhiều người không
ưa. 25) Nói cười lảm-nhảm. 26) Cha mẹ không vui. 27) Họ-hàng
ghét bỏ. 28) Cố giữ những pháp phi-pháp. 29) Lảng xa chính-pháp.
30) Không kính bậc hiền-thiện. 31) Vi-phạm lỗi-lầm. 32) Lảng
xa ñaïo Nieát-baøn. 33) Caøng theâm ñieân cuồng. 34) Thân tâm
tán loạn. 35) Buông-lung làm ác. 36) Thân tan mệnh mất, sa-đọa
vào đại-địa-ngục, chịu khổ sở vô cùng.
(10)
Ba đạt-trí: 1) Thiên-nhãn. 2) Túc-mệnh. 3) Lậu-tận. Ở ngôi
Phật thời gọi là "Đạt". Ở ngôi La-Hán thời gọi là "Minh".
(11)
Năm giới: 1) Không sát sinh. 2) Không trộm cắp. 3) Không tà-dâm.
4) Không nói dối. 5) Không uống rượu.
(12)
Mười điều thiện: Không sát sinh. Không trộm cắp. Không
tà-dâm. Không nói dối. Không nói lưỡi đôi chiều. Không
nói ác-khẩu. Không nói thêu-dệt. Không tham muốn. Không giận-bực.
Không si-mê.
(13)
Ba cõi: Cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô-sắc.
(14)
Hiền-kiếp: (Bhadrakalpa): Phật-học chia thời gian của kiếp
Trụ làm 3: quá khứ, hiện tại và vị-lai. Kiếp Trụ của
quá khứ gọi là Trang-nghiêm-kiếp. Kiếp Trụ của vị lai
gọi là Tinh-Tú-kiếp. Và, kiếp Trụ của hiện tại gọi là
Hiền-kiếp. Được gọi là Hiền-kiếp vì trong kiếp này có
một nghìn đức Phật xuất thế độ sinh.
(15)
Tám-nạn: Đây là nói tám chỗ chướng ngại cho sự thấy
Phật, nghe pháp: 1) Nơi địa-ngục. 2) Nơi ngã-quỷ. 3) Nơi
súc-sinh. 4) Nơi châu Uất-Đan-Việt thuộc phương Bắc núi
Tu-Di (cũng gọi là Bắc-Câu-Lư-Châu) có nhiều sự vui vẻ.
5) Nơi cõi trời Trường-thọ (tức là cõi Sắc, cõi Vô-Sắc)
hưởng nhiều sự sống lâu, an-ổn. 6) Những người mù, lòa,
câm, ngọng. 7) Những người biện-thông về trí-tuệ thế-gian.
8) Những người sinh trước hay sinh sau thời Phật ra đời.
(16)
Tu-Đà-Hoàn (Srotàpanna-phala): Quả thứ nhất trong bốn quả
của bậc Thanh-Văn. Tàu dịch là: Nhập lưu, Nghịch lưu, Dự
lưu. Đều có nghĩa là vị tu-hành đã đi ngược dòng sinh
tử, phàm phu, mà đã được dự vào dòng Thánh-đạo.
(17)
La-Hán (Arahat): Quả vị thứ tư trong bốn quả của bậc Thanh-Văn.
A-La-Hán Tàu dịch là Bất-sinh (cũng có chỗ gọi là Vô-sinh).
Nghĩa là quả-báo trong một đời diệt tận, được vào Niết-bàn
mãi mãi, không phải tái sinh trong ba cõi.
(18)
Bồ-Tát (Bodhisattva): Gọi đủ là Bồ-đề-tát-đóa. Tàu dịch
là Giác-hữu-tình. Nghĩa là những vị phát đại tâm, vì chúng-sinh
cầu đạo vô-thượng và luôn luôn giác-ngộ chúng-sinh thành
vô-thượng-đạo.
(19)
Ưu-Bà-Tắc (Upàsaka): Có chỗ phiên âm là Ô-Ba-Sách-Ca. Tàu
dịch là Thanh-tín-sĩ hay là Cận-sự-nam, nhưng đều có nghĩa
là người đàn ông đã quy y Tam-Bảo thụ-trì năm giới, luôn
luôn thân cận và phụng sự Tam-Bảo.
(20)
Ưu-Bà-Di (Upàsikà): Có chỗ phiên-âm là Ô-Ba-Tư-Ca, Tàu dịch
là Thanh-tín-nữ, Cận-sự-nữ, nhưng đều có nghĩa là người
đàn bà đã quy-y Tam-bảo, thụ-trì năm giới, luôn luôn thân
cận và phụng-sự Tam-Bảo.
(21)
A-Na-Hàm: (Angàmi) Quả vị thứ ba trong bốn quả của bậc
Thanh-Văn. A-Na-Hàm tàu dịch là Bất-Lai hay Bất- Hoàn. Nghĩa
là vị tu-hành đã diệt hết hoặc-nghiệp cõi Dục, không
phải trở lại lần nữa. Sau chỉ phải sinh lên cõi Sắc,
cõi Vô-Sắc mà thôi.
WP:
Chân Thiền